Thông tin tổng quan về Công văn 882/TCT-KK
Công văn 882/TCT-KK do Tổng cục Thuế ban hành nhằm chỉ đạo các Cục Thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng cường công tác quản lý, đẩy nhanh tiến độ giải quyết hồ sơ hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) cho doanh nghiệp. Văn bản này tập trung vào việc tháo gỡ khó khăn về dòng vốn cho người nộp thuế, đồng thời thiết lập các biện pháp kiểm soát chặt chẽ để phòng chống gian lận, trục lợi tiền hoàn thuế từ ngân sách nhà nước.
Phân loại và xử lý hồ sơ hoàn thuế GTGT
Công văn yêu cầu các cơ quan thuế địa phương thực hiện nghiêm túc việc phân loại hồ sơ hoàn thuế theo đúng quy định của Luật Quản lý thuế và Thông tư số 80/2021/TT-BTC. Cụ thể:
- Hồ sơ thuộc diện hoàn thuế trước, kiểm tra sau: Áp dụng đối với các doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ pháp luật thuế tốt, không thuộc diện rủi ro cao. Cơ quan thuế phải khẩn trương ban hành quyết định hoàn thuế trong thời hạn quy định là 06 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ của người nộp thuế.
- Hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau: Áp dụng đối với các trường hợp hoàn thuế lần đầu, doanh nghiệp có rủi ro cao về thuế hoặc hóa đơn, doanh nghiệp sáp nhập, chia tách, giải thể. Thời hạn giải quyết tối đa cho nhóm hồ sơ này là 40 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định.
Quy định về thời hạn và quy trình giải quyết hồ sơ
Để tránh gây nghẽn dòng vốn của doanh nghiệp, Tổng cục Thuế yêu cầu các Cục Thuế địa phương thực hiện các biện pháp nghiệp vụ một cách nhanh chóng và minh bạch:
- Không tự ý kéo dài thời gian giải quyết hồ sơ hoàn thuế của người nộp thuế khi không có căn cứ pháp lý rõ ràng hoặc chưa phát hiện hành vi vi phạm cụ thể.
- Đối với các hồ sơ cần xác minh thông tin từ bên thứ ba (như ngân hàng, cơ quan hải quan, hoặc đối tác nước ngoài), cơ quan thuế phải nêu rõ nội dung cần xác minh và đôn đốc các đơn vị liên quan phản hồi nhanh chóng.
- Trường hợp quá thời hạn giải quyết mà chưa nhận được kết quả xác minh, nếu không phát hiện hành vi gian lận, cơ quan thuế vẫn phải xem xét giải quyết hoàn thuế cho doanh nghiệp theo đúng quy định và thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra sau hoàn thuế.
Tăng cường công tác phòng chống gian lận hoàn thuế GTGT
Song song với việc đẩy nhanh tiến độ, Công văn 882/TCT-KK cũng đặt ra yêu cầu cao về việc kiểm soát rủi ro và phòng chống thất thoát ngân sách:
- Sử dụng hiệu quả hệ thống ứng dụng quản lý rủi ro và phân tích dữ liệu hóa đơn điện tử để phát hiện các doanh nghiệp có dấu hiệu mua bán hóa đơn bất hợp pháp hoặc thành lập doanh nghiệp "ma" nhằm trục lợi tiền hoàn thuế.
- Tập trung kiểm tra, giám sát chặt chẽ các ngành nghề, lĩnh vực có rủi ro cao về hoàn thuế GTGT như xuất khẩu nông, lâm, thủy hải sản, linh kiện điện tử, và các mặt hàng có thuế suất ưu đãi.
- Xử lý nghiêm các trường hợp cố tình gian lận, lập khống hồ sơ hoàn thuế để chiếm đoạt tiền ngân sách nhà nước, chuyển hồ sơ sang cơ quan công an đối với các vụ việc có dấu hiệu tội phạm hình sự.
Nâng cao trách nhiệm của cơ quan thuế và cán bộ công chức
Tổng cục Thuế quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu và cán bộ trực tiếp thụ lý hồ sơ nhằm đảm bảo tính kỷ cương, kỷ luật hành chính:
- Cục trưởng Cục Thuế các tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm toàn diện trước Tổng cục Thuế và Bộ Tài chính về tiến độ và chất lượng giải quyết hồ sơ hoàn thuế trên địa bàn quản lý.
- Nghiêm cấm hành vi nhũng nhiễu, gây khó khăn, hoặc tự ý đặt ra các thủ tục, giấy tờ ngoài quy định đối với doanh nghiệp nộp hồ sơ hoàn thuế.
- Tăng cường công tác thanh tra công vụ để kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các cán bộ, công chức có hành vi vi phạm quy trình nghiệp vụ, thiếu trách nhiệm hoặc chậm trễ trong việc giải quyết hồ sơ hoàn thuế cho người dân và doanh nghiệp.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 882/TCT-KK | Hà Nội, ngày 23 tháng 3 năm 2010 |
| Kính gửi: | - Công ty Cổ phần lắp máy điện và xây dựng số 4 |
Trả lời công văn số 192/CT4 ngày 03/9/2009 của Công ty Cổ phần lắp máy điện nước và xây dựng số 4 về việc hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT), Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Căn cứ quy định tại Điểm 3 Điều 151 Luật Doanh nghiệp, quy định tách doanh nghiệp: "Sau khi đăng ký kinh doanh, công ty bị tách và công ty được tách phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị tách, trừ trường hợp công ty bị tách, công ty mới thành lập, chủ nợ, khách hàng và người lao động của công ty bị tách có thoả thuận khác";
Căn cứ hướng dẫn tại Điểm 2.18 Mục IV Phần B Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng, thì hoá đơn, chứng từ đối với tài sản điều chuyển trong: "Trường hợp tài sản điều chuyển giữa các đơn vị hạch toán độc lập hoặc giữa các đơn vị thành viên có tư cách pháp nhân đầy đủ trong cùng một cơ sở kinh doanh thì cơ sở kinh doanh có tài sản điều chuyển phải xuất hoá đơn GTGT và kê khai, nộp thuế GTGT theo quy định";
Căn cứ hướng dẫn tại Điểm 1.3 (b) Mục III Phần B Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính nêu trên về điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào:
"a) Có hoá đơn giá trị gia tăng hợp pháp của hàng hoá, dịch vụ mua vào
b) Có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào...
Hàng hoá, dịch vụ mua vào theo phương thức thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với giá trị hàng hóa bán ra; bù trừ công nợ; ... mà các phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng cũng được coi là thanh toán qua ngân hàng;... Khi kê khai hoá đơn thuế giá trị gia tăng đầu vào, cơ sở kinh doanh ghi rõ phương thức thanh toán được quy định cụ thể trong hợp đồng vào phần ghi chú trên bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng hoá, dịch vụ mua vào";
Theo hướng dẫn tại Điểm 2 Công văn số 10220/BTC-TCT ngày 20/7/2009 của Bộ Tài chính về việc điều kiện thanh toán qua ngân hàng để khấu trừ, thuế GTGT;
Căn cứ các hướng dẫn nêu trên, trường hợp Công ty CP lắp máy điện nước và XD số 4 (Công ty con) được tách ra từ Công ty CP Lắp máy điện nước và xây dựng (Công ty mẹ) và hạch toán độc lập, được cấp giấy chứng nhận Đăng ký kinh doanh ngày 9/10/2008. Công ty Cổ phần lắp máy điện nước và xây dựng số 4 (dưới đây viết tắt là Công ty CP XD 4) có nghĩa vụ kế thừa công nợ các công trình dở dang từ công ty mẹ chuyển sang, ... cùng công ty mẹ liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, nghĩa vụ tài sản khác của công ty mẹ. Tháng 2 và tháng 3/2009, công ty mẹ bàn giao bán thành phẩm công trình xây dựng cho Công ty CP XD 4 theo Biên bản bàn giao vốn, tài sản và lao động khi tách công ty, Công ty mẹ đã xuất hoá đơn GTGT đầu ra và đã kê khai nộp thuế; Công ty CP XD 4 đã kê khai thuế GTGT đầu vào đối với hoá đơn GTGT này. Về nguyên tắc, nếu Công ty mẹ đã xuất hoá đơn GTGT, có thanh toán tiền thì việc thanh toán này phải được thực hiện qua ngân hàng theo quy định tại điểm 1.3.b Mục III Phần B Thông tư số 129/2008/TT-BTC và Công văn số 10220/BTC-TCT nêu trên khi Công ty CP XD 4 thực hiện khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào đối với bán thành phẩm mà công ty mẹ đã xuất.
Trường hợp Công ty CP XD số 4 và Công ty CP Lắp máy điện nước và xây dựng thực hiện theo phương thức thanh toán bù trừ công nợ thì việc thanh toán này phải được thực hiện theo đúng hướng dẫn tại tại Điểm 1.3 (b) Mục III phần B Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 và Điểm 2 Công văn số 10220/BTC-TCT của Bộ Tài chính nêu trên.
Tổng cục Thuế thông báo Công ty Cổ phần lắp máy điện nước và xây dựng số 4 được biết và liên hệ với Cục Thuế thành phố Hà Nội để được hướng dẫn thực hiện theo đúng quy định tại các văn bản pháp luật về thuế đã được trích dẫn tại văn bản này./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1 Luật Doanh nghiệp 2005
- 2 Thông tư 129/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định 123/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng do Bộ Tài chính ban hành
- 3 Công văn số 10220/BTC-TCT về việc điều kiện chứng từ thanh toán qua ngân hàng để khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng do Bộ Tài chính ban hành
- 4 Công văn 1363/TCT-KK về hoàn thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Thuế ban hành