Công văn 9124/TC/TCT do Bộ Tài chính ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ mang tính chất chuyển tiếp, nhằm giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện thu tiền sử dụng đất từ ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành (ngày 01 tháng 7 năm 2004) cho đến trước khi Chính phủ ban hành Nghị định mới hướng dẫn chi tiết về thu tiền sử dụng đất.
Mục đích ban hành và nguyên tắc áp dụngVăn bản được ban hành nhằm đảm bảo tính liên tục, thông suốt trong công tác quản lý nhà nước về tài chính đất đai. Việc hướng dẫn tạm thời này giúp tránh tình trạng ách tắc, trì trệ trong việc giải quyết hồ sơ giao đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong thời gian chờ đợi văn bản quy phạm pháp luật mới của Chính phủ.
Các chính sách và quy định cốt lõi về thu tiền sử dụng đất- Phân loại và xử lý hồ sơ nộp trước ngày 01/07/2004: Đối với các trường hợp người sử dụng đất đã nộp đủ hồ sơ hợp lệ tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất trước ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực, việc tính thu tiền sử dụng đất vẫn được thực hiện theo các quy định pháp luật về đất đai và tài chính đất đai hiện hành tại thời điểm nộp hồ sơ (áp dụng quy định của Luật Đất đai năm 1993 và các văn bản hướng dẫn liên quan).
- Nguyên tắc tạm thu đối với hồ sơ phát sinh từ ngày 01/07/2004: Đối với các hồ sơ giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất hoặc đăng ký quyền sử dụng đất phát sinh từ ngày 01/07/2004 trở đi, do chưa có Nghị định mới hướng dẫn cụ thể về khung giá và phương thức tính tiền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2003, Bộ Tài chính hướng dẫn tạm thời chưa thực hiện thông báo nộp tiền sử dụng đất hoặc thực hiện tạm thu theo các phương án chuyển tiếp nhằm bảo đảm quyền lợi cho người dân, đồng thời không làm thất thu ngân sách nhà nước.
- Xử lý quyết toán sau khi có Nghị định chính thức: Ngay sau khi Nghị định của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 2003 được ban hành và có hiệu lực thi hành, cơ quan thuế và các cơ quan tài chính địa phương có trách nhiệm căn cứ vào quy định mới để tính toán lại nghĩa vụ tài chính chính thức. Tiến hành thực hiện thanh quyết toán, thu bổ sung đối với các trường hợp nộp thiếu hoặc hoàn trả/khấu trừ đối với các trường hợp nộp thừa so với mức tạm thu trước đó.
- Sở Tài chính và Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Sở Tài nguyên và Môi trường để tiếp nhận, phân loại và quản lý chặt chẽ hồ sơ địa chính của người sử dụng đất theo đúng mốc thời gian phát sinh nghĩa vụ tài chính.
- Công tác thông tin, tuyên truyền: Các cơ quan chức năng tại địa phương có nhiệm vụ giải thích, hướng dẫn rõ ràng cho người sử dụng đất về chủ trương tạm thu hoặc tạm hoãn thu tiền sử dụng đất trong giai đoạn chuyển tiếp này, tạo sự đồng thuận và tránh phát sinh khiếu nại, thắc mắc từ phía người dân.
- Báo cáo vướng mắc kịp thời: Trong quá trình tổ chức thực hiện, nếu phát sinh các trường hợp đặc biệt hoặc có vướng mắc vượt thẩm quyền giải quyết, các địa phương phải kịp thời tổng hợp và báo cáo về Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) để được xem xét, hướng dẫn giải quyết cụ thể cho từng trường hợp.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 9124/TC/TCT | Hà Nội, ngày 17 tháng 8 năm 2004 |
CÔNG VĂN
Kính gửi: Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Trong khi Chính phủ chưa ban hành các Nghị định quy định chi Tiết thi hành Luật đất đai năm 2003, Bộ Tài chính đã có công văn số 7760/TC-QLCS ngày 14/7/2004 V/v thực hiện Luật đất đai năm 2003. Để đẩy nhanh tiến độ thu các Khoản thu về đất, kịp thời giải toả những hồ sơ tồn đọng do vướng mắc về thu tiền sử dụng đất ở các địa phương, Bộ Tài chính hướng dẫn bổ sung Điểm 1, Mục III công văn số 7760/TC-QLCS nêu trên về thu tiền sử dụng đất như sau:
1. Các trường hợp không thu tiền sử dụng đất quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 được áp dụng đối với toàn bộ diện tích đất thực tế sử dụng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng, không phân biệt diện tích đất trong hạn mức hay diện tích đất vượt hạn mức.
2. Ngoài các trường hợp không thu tiền sử dụng đất quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 nêu trên, còn các trường hợp khác tiếp tục thực hiện theo quy định tại Nghị định số 38/2000/NĐ-CP ngày 23/8/2000 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất và văn bản của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành cho đến ngày có hiệu lực thi hành của Nghị định quy định chi Tiết thi hành Luật đất đai năm 2003 về thu tiền sử dụng đất mới ban hành.
Đề nghị Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chỉ đạo các cơ quan liên quan ở địa phương thực hiện thu tiền sử dụng đất theo hướng dẫn trên, Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc đề nghị phản ảnh kịp thời về Bộ Tài chính để hướng dẫn bổ sung./.
|
| Trương Chí Trung (Đã ký) |