Giới thiệu về Công văn 9268/TCHQ-TXNK
Công văn 9268/TCHQ-TXNK được Tổng cục Hải quan ban hành nhằm hướng dẫn và chấn chỉnh công tác xử lý bảo lãnh thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Văn bản tập trung giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện bảo lãnh của các ngân hàng thương mại, đồng thời siết chặt kỷ cương trong việc thu hồi nợ thuế nhằm bảo vệ nguồn thu ngân sách nhà nước.
Trách nhiệm và nghĩa vụ của ngân hàng thương mại phát hành bảo lãnh
Công văn quy định rõ ràng và nghiêm ngặt về vai trò của các tổ chức tín dụng khi đứng ra bảo lãnh nghĩa vụ thuế cho doanh nghiệp:
- Nghĩa vụ thanh toán vô điều kiện: Ngân hàng bảo lãnh có trách nhiệm nộp thay tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt và các khoản phí khác (nếu có) cho người nộp thuế khi đã hết thời hạn bảo lãnh mà doanh nghiệp chưa thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ tài chính.
- Tính chất liên đới: Cam kết bảo lãnh của ngân hàng là cam kết đơn phương, không hủy ngang và có hiệu lực bắt buộc thi hành ngay khi cơ quan hải quan có văn bản yêu cầu thanh toán.
Biện pháp xử lý đối với các trường hợp vi phạm cam kết bảo lãnh
Để đảm bảo tính nghiêm minh, Tổng cục Hải quan hướng dẫn các biện pháp chế tài mạnh mẽ đối với các ngân hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ bảo lãnh:
- Tạm dừng chấp nhận bảo lãnh: Cơ quan hải quan trên toàn quốc sẽ tạm dừng chấp nhận thư bảo lãnh mới từ các ngân hàng thương mại có phát sinh nợ quá hạn bảo lãnh thuế hoặc cố tình trì hoãn việc thanh toán tiền thuế bảo lãnh.
- Cưỡng chế trích tài khoản: Áp dụng biện pháp yêu cầu Ngân hàng Nhà nước hoặc các tổ chức tín dụng liên quan thực hiện trích tiền từ tài khoản của ngân hàng bảo lãnh để nộp vào ngân sách nhà nước theo đúng quy định của pháp luật về quản lý thuế.
- Phối hợp thanh tra, kiểm tra: Tổng hợp danh sách các tổ chức tín dụng vi phạm nghĩa vụ bảo lãnh để báo cáo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xem xét, xử lý theo thẩm quyền đối với các vi phạm trong hoạt động cấp tín dụng và bảo lãnh.
Quy trình phối hợp và đôn đốc thu hồi nợ thuế bảo lãnh
Công văn hướng dẫn chi tiết quy trình nghiệp vụ cho các cục hải quan địa phương nhằm tối ưu hóa hiệu quả thu hồi nợ:
- Theo dõi và rà soát hệ thống: Các chi cục hải quan phải thường xuyên theo dõi, cập nhật trạng thái các thư bảo lãnh trên hệ thống thông tin quản lý tập trung để kịp thời phát hiện các khoản nợ sắp đến hạn hoặc đã quá hạn.
- Phát hành văn bản đôn đốc: Ngay khi phát sinh nợ quá hạn, cơ quan hải quan phải gửi văn bản yêu cầu thanh toán trực tiếp đến ngân hàng phát hành bảo lãnh, nêu rõ số tiền thuế, tiền chậm nộp và thời hạn phải hoàn thành.
- Chế độ báo cáo định kỳ: Các cục hải quan tỉnh, thành phố có trách nhiệm tổng hợp số liệu nợ bảo lãnh thuế, phân tích nguyên nhân tồn đọng và báo cáo định kỳ về Tổng cục Hải quan để có phương án chỉ đạo, giải quyết kịp thời.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 9268/TCHQ-TXNK | Hà Nội, ngày 07 tháng 10 năm 2015 |
Kính gửi: Ngân hàng TMCP Á Châu.
(442 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh)
Trả lời công văn số 5104/CV-KHDN.15 ngày 23/9/2015 của Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) về đề nghị hướng dẫn xử lý bảo lãnh thuế, Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:
1. Về thời hạn nộp thuế và thời hạn bảo lãnh:
Khoản 3 Điều 42 Thông tư 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính quy định: “… Trong thời gian bảo lãnh phải nộp tiền chậm nộp kể từ ngày thông quan hoặc giải phóng hàng đến ngày thực nộp thuế”.
Theo quy định trên, thời gian tính tiền chậm nộp kể từ ngày thông quan hoặc giải phóng hàng đến ngày thực nộp thuế, không tính từ ngày đăng ký tờ khai (áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 42 Luật Quản lý thuế được sửa đổi, bổ sung tại khoản 11 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13).
2. Về điều kiện thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh:
Điều 43 Thông tư 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về bảo lãnh thuế được quy định tại Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13. Như vậy, riêng việc bảo lãnh thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu phải thực hiện theo quy định của Luật Quản lý thuế và Thông tư 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính.
Theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 42 Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 được sửa đổi, bổ sung tại khoản 11 Điều 1 Luật số 21/2012/QH13 thì: “Các trường hợp đã được tổ chức tín dụng bảo lãnh nhưng hết thời hạn bảo lãnh mà người nộp thuế chưa nộp thuế và tiền chậm nộp (nếu có), thì tổ chức nhận bảo lãnh có trách nhiệm nộp đủ thuế và tiền chậm nộp thay cho người nộp thuế”. Theo đó, khi bảo lãnh tiền thuế, ACB mặc nhiên có trách nhiệm nộp đủ thuế và tiền chậm nộp thay cho người nộp thuế mà không cần có văn bản yêu cầu của cơ quan hải quan. Ngoài ra, căn cứ Điều 3 Thỏa thuận hợp tác phối hợp thu NSNN giữa ACB với Tổng cục Hải quan, đối với khoản bảo lãnh thuế từ ACB, ACB có trách nhiệm tự theo dõi, kiểm tra bảo lãnh và thực hiện nghĩa vụ nộp thay tiền thuế, tiền chậm nộp (nếu có) thay người nộp thuế.
3. Về phát hành thư bảo lãnh thanh toán thuế bằng phương thức điện tử:
Khoản 5 Điều 43 Thông tư số 38/2015/TT-BTC quy định: “Trường hợp bảo lãnh thuế bằng phương thức điện tử của các ngân hàng thương mại đã ký kết, thỏa thuận phối hợp thu với Tổng cục Hải quan: Khi nhận được thông tin số tiền bảo lãnh thuế tại ngân hàng thương mại qua hệ thống thanh toán điện tử trên cổng thanh toán điện tử của Tổng cục Hải quan, cơ quan Hải quan cập nhật vào cơ sở dữ liệu của Tổng cục Hải quan và chấp nhận thông quan hàng hóa.”
Như vậy, ACB có thể phát hành thư bảo lãnh thuế áp dụng cho số thuế phải nộp của tất cả các tờ khai hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (tờ khai ở 3 luồng: xanh, vàng, đỏ).
Trong trường hợp phát hành thư bảo lãnh thuế cho các tờ khai luồng vàng, luồng đỏ có sự thay đổi về thuế (tăng số tiền thuế phải nộp so với số thuế tạm tính ban đầu), (1) người nộp thuế muốn sử dụng bảo lãnh toàn bộ số tiền thuế phải nộp thì đề nghị ngân hàng phát hành thư bảo lãnh mới và khai sửa đổi bổ sung bằng số, ký hiệu thư bảo lãnh mới; hoặc (2) người nộp thuế khai lại hình thức thanh toán từ mã A hoặc B sang mã D - nộp thuế ngay và nộp tiền thuế chênh lệch, cán bộ hải quan tra cứu thông tin bảo lãnh điện tử từ chức năng “Cổng thông tin” tại hệ thống KTTT nhập lại thông tin bảo lãnh vào KTTT (chức năng: nhập bảo lãnh sau khi có tờ khai) theo quy định, hệ thống KTTT sẽ kiểm tra việc thanh toán thuế và bảo lãnh để xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế và xử lý thông quan hàng hóa.
Việc theo dõi, xử lý bảo lãnh thực hiện tương tự như đối với các hình thức bảo lãnh quy định tại điểm d khoản 3 và điểm đ khoản 4 Điều 43 Thông tư số 38/2015/TT-BTC.
Tổng cục Hải quan có ý kiến để Ngân hàng TMCP Á Châu được biết.
|
| TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1 Luật quản lý thuế 2006
- 2 Công văn 16593/BTC-TCHQ thực hiện bảo lãnh thuế do Bộ Tài chính ban hành
- 3 Luật quản lý thuế sửa đổi 2012
- 4 Công văn 6938/TCHQ-TXNK năm 2013 bảo lãnh thuế do Tổng cục Hải quan ban hành
- 5 Công văn 7515/TCHQ-TXNK năm 2013 bảo lãnh thuế do Tổng cục Hải quan ban hành
- 6 Thông tư 38/2015/TT-BTC Quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành