Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Công văn của Tổng cục Thuế hướng dẫn chi tiết về chính sách thuế và nghĩa vụ nộp thuế đối với mô hình tổ hợp tác hoạt động trong lĩnh vực trồng và sấy sơ chế lá thuốc lá. Đây là văn bản hướng dẫn quan trọng nhằm tháo gỡ các vướng mắc về thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế thu nhập cá nhân (TNCN) và hóa đơn chứng từ cho các mô hình kinh tế tập thể quy mô nhỏ tại địa phương.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Văn bản áp dụng đối với các tổ hợp tác trồng và sấy thuốc lá, các hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh tham gia liên kết sản xuất, cùng các Cục Thuế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm quản lý thuế trực tiếp tại địa bàn.

Chính sách thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với sản phẩm lá thuốc lá

  • Sản phẩm lá thuốc lá do tổ hợp tác tự trồng trọt và bán ra ở khâu trồng trọt trực tiếp thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng.
  • Trường hợp tổ hợp tác thực hiện khâu sấy khô, sơ chế thông thường (như phơi khô, sấy khô, phân loại, làm sạch) rồi bán ra thì sản phẩm sau sơ chế này vẫn được xác định là sản phẩm trồng trọt mới qua sơ chế thông thường, thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT ở khâu tự sản xuất bán ra.
  • Khi tổ hợp tác bán sản phẩm lá thuốc lá đã sấy cho các doanh nghiệp, hợp tác xã ở khâu kinh doanh thương mại thì thực hiện theo quy định về đối tượng không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT.

Nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân (TNCN) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN)

  • Đối với tổ hợp tác không có tư cách pháp nhân, thu nhập từ hoạt động trồng trọt và sấy sơ chế thuốc lá của các cá nhân, hộ gia đình thành viên được xem xét miễn thuế TNCN nếu đáp ứng đủ điều kiện về sản xuất nông nghiệp trực tiếp chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác.
  • Trường hợp tổ hợp tác có phát sinh doanh thu từ các hoạt động dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp hoặc các hoạt động kinh doanh khác ngoài nông nghiệp, phần thu nhập này phải thực hiện kê khai và nộp thuế theo quy định pháp luật về thuế TNCN và thuế TNDN hiện hành đối với từng thành viên hoặc đại diện tổ hợp tác.

Quy định về hóa đơn, chứng từ và quản lý thuế

  • Tổ hợp tác khi bán sản phẩm lá thuốc lá tự trồng, tự sấy phải lập hóa đơn hoặc chứng từ thu mua theo đúng quy định của Luật Quản lý thuế.
  • Các doanh nghiệp, hợp tác xã thu mua sản phẩm lá thuốc lá từ tổ hợp tác phải lập bảng kê thu mua hoặc yêu cầu xuất hóa đơn (nếu có) để làm căn cứ hạch toán chi phí được trừ khi tính thuế TNDN, đảm bảo tính minh bạch và hợp pháp của nguồn gốc nguyên liệu.

Hiệu lực thi hành và tổ chức thực hiện

Công văn yêu cầu các Cục Thuế địa phương căn cứ vào tình hình thực tế hoạt động, phương thức tổ chức sản xuất và phân phối thu nhập của từng tổ hợp tác cụ thể trên địa bàn để hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế đúng quy định, tránh thất thu ngân sách nhà nước đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho người dân phát triển kinh tế nông nghiệp.

TỔNG CỤC THUẾ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 4843/TCT/NV6
Về việc nộp thuế của tổ hợp tác trồng, sấy thuốc lá

Hà Nội, ngày 28 tháng 11 năm 2001

 

Kính gửi: Cục thuế tỉnh Tây Ninh

Trả lời Công văn số 753/CT-NV ngày 5/11/2001 của Cục thuế tỉnh Tây Ninh về việc quản lý thu thuế đối với tổ hợp tác trồng và sấy thuốc lá, Tổng cục thuế có ý kiến như sau:

Theo quy định tại điểm 1, mục II, phần A, Thông tư số 122/2000/TT-BTC ngày 29/12/2000 của Bộ Tài chính thì: "Sản phẩm trồng trọt (bao gồm cả sản phẩm rừng trồng), chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ sơ chế thông thường của các tổ chức, cá nhân tự sản xuất bán ra" là đối tượng không chịu thuế GTGT.

Theo quy định tại điểm 1, mục II, phần A Thông tư số 99/1998/TT-BTC ngày 14/7/1998 của Bộ Tài chính thì: "Hợp tác xã, tổ hợp tác, tổ chức kinh tế tập thể khác có thu nhập từ hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản" là đối tượng không thuộc diện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.

Theo các quy định nêu trên thì trường hợp tổ hợp tác trồng thuốc lá, khi thu hoạch thuốc lá tươi và đưa sấy khô thuốc lá lá (sơ chế) để bán, đã nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp thì không thuộc đối tượng nộp thuế môn bài, thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp. Trường hợp trước và sau khi sấy, có thực hiện một số giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng của thuốc lá như ướp, tẩm hương liệu, thái cắt thành thuốc lá sợi... thì tổ hợp tác phải nộp thuế môn bài, thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp.

Tổng cục thuế trả lời để Cục thuế biết và thực hiện.

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Công văn của Tổng Cục Thuế về việc nộp thuế của tổ hợp tác trồng, sấy thuốc lá

Số hiệu: 4843/TCT/NV6
Loại văn bản: Công văn
Ngày ban hành: 28/11/2001
Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
Người ký: ***
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 28/11/2001
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Lĩnh vực khác
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Công văn của Tổng Cục Thuế về việc nộp thuế c...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký