Công văn hướng dẫn giải quyết một số trường hợp cụ thể trong công tác xét xử và thi hành án phạt tù (chưa rõ số hiệu, cơ quan và ngày ban hành cụ thể) được ban hành nhằm kịp thời tháo gỡ các vướng mắc, bất cập phát sinh trong thực tiễn xét xử của Tòa án và công tác thi hành án hình sự. Văn bản tập trung hướng dẫn thống nhất nhận thức pháp luật, bảo đảm áp dụng đúng đắn các quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Thi hành án hình sự.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản hướng dẫn áp dụng đối với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án hình sự, người chấp hành án và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự và tổ chức thi hành án phạt tù.
Nội dung hướng dẫn chi tiết từ Điều 1 đến Điều 4
-
Điều 1: Hướng dẫn về việc trừ thời gian tạm giữ, tạm giam vào thời hạn chấp hành hình phạt tù
- Quy định rõ nguyên tắc quy đổi thời gian tạm giữ, tạm giam đối với người bị kết án. Một ngày tạm giữ, tạm giam được tính bằng một ngày tù giam để khấu trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.
- Xử lý trường hợp người bị kết án có nhiều bản án hoặc phạm nhiều tội trong cùng một vụ án, bảo đảm việc khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam được thực hiện chính xác, không trùng lặp và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người chấp hành án.
-
Điều 2: Hướng dẫn giải quyết vướng mắc trong việc hoãn chấp hành hình phạt tù
- Làm rõ các điều kiện và thủ tục xem xét hoãn chấp hành hình phạt tù đối với người bị kết án là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người bị bệnh nặng, hoặc là lao động duy nhất trong gia đình.
- Quy định trách nhiệm của Tòa án đã ra quyết định thi hành án trong việc phối hợp với cơ quan thi hành án hình sự và chính quyền địa phương để quản lý, giám sát người được hoãn chấp hành án.
-
Điều 3: Hướng dẫn về tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù
- Xác định cụ thể các trường hợp người đang chấp hành án phạt tù được tạm đình chỉ chấp hành án, đặc biệt là các trường hợp vì lý do sức khỏe (bị bệnh nặng đến mức không thể tiếp tục chấp hành án tại trại giam) hoặc do yêu cầu công vụ đặc biệt.
- Thủ tục lập hồ sơ đề nghị tạm đình chỉ, thẩm quyền quyết định của Tòa án và việc tiếp nhận, quản lý người được tạm đình chỉ tại địa phương nơi cư trú.
-
Điều 4: Hướng dẫn xử lý trường hợp người bị kết án phạt tù bỏ trốn
- Quy định quy trình phối hợp giữa Tòa án và Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cấp huyện khi phát hiện người bị kết án phạt tù đang tại ngoại (được hoãn hoặc tạm đình chỉ) bỏ trốn.
- Hướng dẫn việc ra quyết định truy nã và đình chỉ việc hoãn, tạm đình chỉ chấp hành án để tiến hành áp giải, bắt giữ đối tượng đưa đi chấp hành án ngay sau khi bắt được hoặc đối tượng ra đầu thú.
Hiệu lực thi hành
Các hướng dẫn tại văn bản này được áp dụng thống nhất trong hoạt động xét xử của các cấp Tòa án và công tác thi hành án phạt tù kể từ ngày ban hành. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc phát sinh, các đơn vị cần kịp thời báo cáo để có hướng dẫn, giải thích bổ sung.
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 33/KHXX | Hà Nội, ngày 11 tháng 6 năm 1996 |
CÔNG VĂN
CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 33/KHXX NGÀY 11 THÁNG 6 NĂM 1996 HƯỚNG DẪN GIẢI QUYẾT MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP CỤ THỂ TRONG CÔNG TÁC XÉT XỬ VÀ THI HÀNH ÁN PHẠT TÙ
Trong thời gian vừa qua, Toà án nhân dân tối cao nhận được công văn của một số Toà án nhân dân địa phương, đề nghi hướng dẫn một số trường hợp cụ thể trong công tác xét xử và thi hành án phạt tù. Để thi hành thống nhất trong các trường hợp cụ thể đó, Toà án nhân dân tối cao lưu ý các Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp như sau:
1. Đối với trường hợp sau khi xét xử sơ thẩm xong bản án hình sự sơ thẩm bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm và trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo đã bị tạm giam bằng mức hình phạt tù mà Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo, thì theo quy định tại Điều 215a Bộ luật Tố tụng hình sự. Toà án cấp phúc thẩm có trách nhiệm xem xét và tùy từng trường hợp cụ thể mà ra một trong các quyết định sau đây:
a. Quyết định hủy bỏ biện pháp ngăn chặn là tạm giam đối với bị cáo và trả tự do cho bị cáo (nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về hành vi vi phạm pháp luật khác) trong trường hợp bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Viện kiểm sát kháng nghị theo hướng giám nhẹ hình phạt cho bị cáo hoặc trong trường hợp người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ kháng cáo, Viện Kiểm sát kháng nghị theo hướng tăng nặng hình phạt đối với bị cáo, nhưng Toà án cấp phúc thẩm xét thấy không cần tiếp tục tạm giam bị cáo để hoàn thành việc xét xử.
b. Quyết định tạm giam đối với bị cáo, trong trường hợp người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ kháng cáo, Viện kiểm sát kháng nghị theo hướng tăng nặng hình phạt đối với bị cáo và Toà án cấp phúc thẩm xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo để hoàn thành việc xét xử.
Trong trường hợp thấy gần hết thời hạn tù Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo mà Toà án cấp phúc thẩm vẫn chưa ra một trong các quyết định nói trên thì Toà án cấp sơ thẩm cần chủ động yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm sớm giải quyết theo thẩm quyền.
2. Đối với trường hợp bị cáo bị Toà án cấp sơ thẩm phạt tù với mức án dài hơn thời gian đã bị tạm giam (tính đến ngày xét xử sơ thẩm) dưới 30 ngày và trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị bị cáo đã bị tạm giam bằng mức hình phạt tù mà Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo, nhưng vẫn chưa có kháng cáo, kháng nghị, thì việc trả tự do cho bị cáo là thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát (theo quy định tại khoản 6 Điều 23 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân). Trong trường hợp hết thời hạn phạt tù Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo và vẫn trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà Viện kiểm sát chưa ra quyết định trả tự do cho bị cáo thì Toà án cấp sơ thẩm cần chủ động yêu cầu Viện kiểm sát sớm giải quyết theo thẩm quyền.
Cần lưu ý rằng trong trường hợp hết thời hạn phạt tù mà Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo và đã hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, thì Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào khoản 3 Điều 226 Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định thi hành án phạt tù đối với người bị kết án, trong đó cần nói rõ người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt tù và yêu cầu cơ quan Công an trả tự do ngay cho người bị kết án, nếu họ không bị tạm giữ, tạm giam về hành vi vi phạm pháp luật khác.
Tuy nhiên, để tránh tình trạng tương tự xảy ra, từ nay về sau khi xét xử sơ thẩm, nếu Toà án cấp sơ thẩm thấy cần thiết quyết định đối với bị cáo mức án dài hơn thời gian bị cáo đã bị tạm giam (tính đến ngày xét xử sơ thẩm) trên một tháng thì mới kết án bị cáo theo mức án đó. Trong trường hợp chỉ thấy cần thiết kết án bị cáo với mức án dài hơn dưới 30 ngày (thông thường để làm quyết định con số tròn tháng), thì không nên kết án theo mức án đó, mà kết án bị cáo với mức án bằng đúng thời hạn tạm giam và trả ngay tự do cho bị cáo tại phiên toà.
Ví dụ: Một bị cáo đã bị tạm giam đến ngày xét xử sơ thẩm là 14 tháng 11 ngày. Nếu Toà án cấp sơ thẩm thấy cần thiết phạt tù bị cáo với mức án từ 16 tháng tù trở lên thì mới nên quyết định mức án đó. Ngược lại nếu Toà án cấp sơ thẩm xét thấy chưa cần thiết phạt bị cáo với mức án 16 tháng tù mà thấy chỉ cần phạt bị cáo mức án 15 tháng tù vì muốn quyết định con số tròn tháng, thì trong trường hợp này, chỉ nên phạt bị cáo mức án bắng đúng thời hạn tạm giam là 14 tháng 11 ngày và trả tự do cho bị cáo tại phiên toà (nếu bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam về hành vi vi phạm pháp luật khác)
3. Đối với trường hợp trong một vụ án hình sự có nhiều bị cáo bị Toà án cấp sơ thẩm kết án, mà trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị chỉ có một hoặc một số bị cáo có kháng cáo hoặc bị kháng cáo, bị kháng nghị, thì căn cứ vào Điều 211, Điều 226 Bộ luật Tố tụng hình sự, phần của bản án hình sự sơ thẩm đối với những bị cáo không có kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật và được thi hành; do đó, đối với những bị cáo này Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào điều 226 Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định thi hành án phạt tù đối với họ (nếu họ bị phạt tù).
|
| Phạm Hưng (Đã ký)
|