Giới thiệu về Công văn số 0659/TM-XNK
Công văn số 0659/TM-XNK được Bộ Thương mại ban hành ngày 26/04/2002 nhằm hướng dẫn chi tiết về thủ tục và điều kiện nhập khẩu các mặt hàng mỹ phẩm vào thị trường Việt Nam. Đây là văn bản quan trọng điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế đối với nhóm hàng hóa ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng, thiết lập cơ chế phối hợp quản lý giữa Bộ Thương mại và Bộ Y tế.
Các nội dung cốt lõi của Công văn số 0659/TM-XNK
- Đối tượng áp dụng và phạm vi điều chỉnh: Văn bản áp dụng đối với các doanh nghiệp thực hiện hoạt động nhập khẩu mỹ phẩm vào Việt Nam. Các mặt hàng mỹ phẩm nhập khẩu phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về quản lý chuyên ngành của Bộ Y tế và quy định quản lý ngoại thương của Bộ Thương mại.
- Điều kiện nhập khẩu mỹ phẩm: Doanh nghiệp muốn nhập khẩu mỹ phẩm phải có đăng ký kinh doanh hợp pháp. Đồng thời, các sản phẩm mỹ phẩm nhập khẩu phải được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (cụ thể là Cục Quản lý Dược thuộc Bộ Y tế) cấp số đăng ký lưu hành hoặc phiếu tiếp nhận bản công bố tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm trước khi đưa vào lưu thông.
- Thủ tục thông quan tại cửa khẩu: Khi làm thủ tục nhập khẩu tại cơ quan Hải quan, doanh nghiệp phải xuất trình các chứng từ theo quy định pháp luật, bao gồm phiếu tiếp nhận công bố sản phẩm mỹ phẩm còn hiệu lực. Cơ quan Hải quan sẽ căn cứ vào các văn bản này để giải quyết thủ tục thông quan trực tiếp, giúp giảm thiểu thủ tục hành chính và không yêu cầu doanh nghiệp phải xin giấy phép nhập khẩu riêng biệt từ Bộ Thương mại cho từng lô hàng.
- Trách nhiệm của doanh nghiệp nhập khẩu: Doanh nghiệp nhập khẩu phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của các hồ sơ, tài liệu đã xuất trình. Đồng thời, doanh nghiệp có nghĩa vụ bảo đảm chất lượng, tính an toàn của sản phẩm mỹ phẩm lưu thông trên thị trường đúng như nội dung đã công bố với cơ quan quản lý.
Ý nghĩa và vai trò của văn bản
Công văn số 0659/TM-XNK đã góp phần quan trọng trong việc đơn giản hóa thủ tục hành chính trong hoạt động xuất nhập khẩu thời kỳ đầu hội nhập. Văn bản tạo ra cơ chế quản lý thông thoáng nhưng vẫn đảm bảo chặt chẽ, giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong kế hoạch kinh doanh, đồng thời bảo vệ quyền lợi và sức khỏe của người tiêu dùng trong nước trước các sản phẩm mỹ phẩm nhập khẩu.
| BỘ THƯƠNG MẠI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 0659/TM-XNK | Hà Nội, ngày 26 tháng 4 năm 2002 |
Kính gửi: Cục Quản lý Dược Việt Nam
Phúc công văn số 3545/QLD HN ngày 26.4.2002 về việc nhập khẩu mỹ phẩm; Bộ Thương mại có ý kiến như sau:
Căn cứ Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg ngày 4/4/2001 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý xuất nhập khẩu thời kỳ 2001 - 2005; căn cứ Thông tư của Bộ Y tế số 06/2001/TT BYT ngày 23/4/2001 hướng dẫn việc xuất nhập khẩu thuốc và mỹ phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người trong thời kỳ 2001 - 2005 thì mỹ phẩm có ảnh hưởng đến sức khoẻ con người được nhập khẩu khi mỹ phẩm đã có số đăng ký lưu hành không bị hạn chế số lượng, giá trị, không phải xin giấy phép nhập khẩu hoặc xác nhận đơn hàng nhập khẩu. Tuy nhiên theo báo cáo của Cục Quản lý Dược Việt Nam tại công văn 3545/QLD-HN dẫn trên, để giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp, bảo đảm lợi ích người tiêu dùng, chống hàng nhập lậu, hàng giả, hàng kém phẩm chất trong một số trường hợp doanh nghiệp chưa kịp tiến hành đăng ký lưu hành những mặt hàng mỹ phẩm đã lưu hành ở thị trường Việt Nam thì Cục Quản lý Dược theo chức năng quản lý nhà nước về mỹ phẩm kiểm tra, nếu là loại mỹ phẩm không gây độc hại cho người thì trước mắt có thể xác nhận vào đơn hàng để doanh nghiệp được nhập khẩu và đồng thời hoạt động doanh nghiệp tiến hành ngay việc đăng ký số lưu hành.
Bộ Thương mại xin thông báo để quý Cục được biết./.
|
| KT. BỘ TRƯỞNG BỘ THƯƠNG MẠI |
- 1 Công văn số 4404 TCHQ/GSQL của Tổng cục Hải quan về việc hướng dẫn thủ tục nhập khẩu và phân phối các sản phẩm mỹ phẩm tại Việt Nam
- 2 Quyết định 46/2001/QĐ-TTg về việc quản lý, nhập khẩu hàng hoá thời kỳ 2001-2005 do Thủ Tướng Chính Phủ ban hành
- 3 Thông tư 06/2001/TT-BYT hướng dẫn việc xuất, nhập khẩu thuốc và mỹ phẩm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người, trong thời kỳ 2001-2005 do Bộ Y tế ban hành