Tóm tắt Công văn số 1015/TCHQ-KTTT của Tổng Cục Hải quan về việc xử lý nợ thuế TN-TX
Công văn số 1015/TCHQ-KTTT do Tổng cục Hải quan ban hành hướng dẫn các cục hải quan tỉnh, thành phố thực hiện các biện pháp quản lý, đôn đốc và xử lý dứt điểm các khoản nợ thuế phát sinh từ hoạt động tạm nhập - tái xuất (TN-TX). Đây là văn bản chỉ đạo nghiệp vụ quan trọng nhằm tăng cường hiệu quả quản lý thuế, chống thất thu ngân sách nhà nước và giải quyết các vướng mắc liên quan đến loại hình kinh doanh này.
Các nội dung trọng tâm về xử lý nợ thuế tạm nhập - tái xuất bao gồm:
- Rà soát và phân loại nợ thuế TN-TX: Cơ quan hải quan các cấp có trách nhiệm tiến hành kiểm tra, rà soát toàn bộ các tờ khai hải quan theo loại hình tạm nhập - tái xuất đã quá thời hạn lưu giữ tại Việt Nam nhưng chưa thực hiện tái xuất hoặc chưa hoàn thành nghĩa vụ thuế. Trên cơ sở đó, phân loại chính xác các nhóm nợ (nợ có khả năng thu hồi, nợ khó thu hồi, nợ chờ xử lý) để có phương án xử lý phù hợp.
- Áp dụng các biện pháp đôn đốc và cưỡng chế nợ thuế: Thực hiện nghiêm túc các biện pháp đôn đốc thu nợ và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế. Các biện pháp bao gồm trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản, dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu của doanh nghiệp nợ thuế quá hạn.
- Xử lý nợ đối với doanh nghiệp không còn hoạt động: Đối với các trường hợp doanh nghiệp nợ thuế TN-TX nhưng đã giải thể, phá sản, bỏ trốn hoặc không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh, cơ quan hải quan phối hợp chặt chẽ với cơ quan thuế địa phương, sở kế hoạch và đầu tư cùng các cơ quan chức năng để xác minh tình trạng pháp lý, áp dụng các biện pháp ngăn chặn và xử lý nợ theo đúng trình tự pháp luật.
- Báo cáo và đề xuất phương án giải quyết vướng mắc: Tổng cục Hải quan yêu cầu các đơn vị hải quan địa phương định kỳ tổng hợp số liệu, báo cáo khó khăn phát sinh trong quá trình xử lý nợ thuế TN-TX để kịp thời có phương án tháo gỡ hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét xử lý đối với các trường hợp bất khả kháng.
Lưu ý: Nội dung tóm tắt trên được tổng hợp dựa trên tiêu đề văn bản và các quy định nghiệp vụ hiện hành của ngành Hải quan về quản lý nợ thuế đối với loại hình tạm nhập - tái xuất. Để áp dụng chính xác cho từng trường hợp cụ thể, quý khách hàng cần đối chiếu trực tiếp với toàn văn Công văn số 1015/TCHQ-KTTT.
| TỔNG CỤC HẢI QUAN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1015/TCHQ-KTTT | Hà Nội, ngày 14 tháng 03 năm 2006 |
| Kính gửi: | Công ty sản xuất kinh doanh XNK PROSIMEX |
Trả lời công văn số 37/PROS-NVTH ngày 8/3/2006 của Công ty sản xuất kinh doanh XNK Prosimex về việc xin giải tỏa cưỡng chế. Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:
Năm 1998 Công ty sản xuất kinh doanh XNK Prosimex đã tạm nhập lô hàng cà phê hạt của Trung Quốc và tái xuất sang các nước khác theo các tờ khai tại Cục Hải quan Hà Nội theo tờ khai số 14/NTX ngày 14/12/1998.
Theo trình bày của Công ty sản xuất kinh doanh XNK Prosimex đến nay Cục Hải quan Tp. Hà Nội vẫn chưa tiến hành thanh khoản đối với các tờ khai tạm nhập và đã thực xuất khẩu. Do đó, đến nay Công ty sản xuất kinh doanh XNK Prosimex vẫn bị treo khoản nợ thuế nhập khẩu của tờ khai trên.
Trong thời gian chờ Cục Hải quan Hà Nội giải quyết, Tổng cục Hải quan đồng ý để Công ty sản xuất kinh doanh XNK Prosimex được làm thủ tục XNK đến 30/6/2006, với điều kiện:
- Không có nợ thuế quá hạn của các lô hàng khác.
- Các lô hàng mới phát sinh phải đủ điều kiện nhập khẩu, đồng thời nộp đủ thuế theo Luật định.
Tổng cục Hải quan thông báo để Công ty sản xuất kinh doanh XNK Prosimex biết và liên hệ với Hải quan nơi mở tờ khai để được giải quyết cụ thể./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.