Giới thiệu về Công văn số 1221TCT/DNNN
Công văn số 1221TCT/DNNN do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ thuế quan trọng, giải quyết các vướng mắc liên quan đến việc xác định thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với khoản phí phục vụ (service charge) tại các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch, khách sạn và nhà hàng. Văn bản này đưa ra các nguyên tắc cốt lõi giúp doanh nghiệp thực hiện đúng nghĩa vụ thuế và hạch toán chi phí hợp lệ.
Quy định về việc xác định doanh thu tính thuế từ phí phục vụ
Theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế, khoản phí phục vụ thu thêm từ khách hàng ngoài giá dịch vụ chính phải được quản lý và hạch toán chặt chẽ:
- Ghi nhận doanh thu: Khoản phí phục vụ (thường được tính theo tỷ lệ phần trăm trên hóa đơn dịch vụ) là một khoản thu phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, khoản thu này phải được gộp chung vào doanh thu của doanh nghiệp để tính thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN).
- Yêu cầu về hóa đơn, chứng từ: Doanh nghiệp có nghĩa vụ xuất hóa đơn và kê khai đầy đủ khoản phí phục vụ này theo quy định. Việc để ngoài sổ sách hoặc không kê khai khoản thu này bị coi là hành vi vi phạm pháp luật về thuế.
Chính sách thuế TNDN đối với khoản chi trả phí phục vụ cho người lao động
Công văn làm rõ cách thức xử lý thuế TNDN khi doanh nghiệp phân phối lại khoản phí phục vụ này cho nhân viên:
- Điều kiện tính vào chi phí được trừ: Khi doanh nghiệp sử dụng khoản phí phục vụ đã thu để chi trả trực tiếp cho người lao động (dưới dạng tiền thưởng, phụ cấp hoặc hỗ trợ hiệu quả công việc), khoản chi này được chấp nhận là chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.
- Hồ sơ chứng minh chi phí hợp lệ: Để được khấu trừ thuế TNDN, doanh nghiệp phải quy định rõ ràng nguyên tắc, đối tượng và mức phân phối phí phục vụ trong các văn bản nội bộ như: Hợp đồng lao động, Thỏa ước lao động tập thể hoặc Quy chế tài chính của doanh nghiệp. Đồng thời, phải có chứng từ chi tiền hợp pháp cho người lao động.
- Nghĩa vụ thuế liên quan của người lao động: Khoản tiền phí phục vụ được chia cho người lao động là thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân (TNCN) từ tiền lương, tiền công. Doanh nghiệp có trách nhiệm khấu trừ thuế TNCN trước khi chi trả cho nhân viên theo quy định hiện hành.
Ý nghĩa và lưu ý áp dụng cho doanh nghiệp
Việc tuân thủ hướng dẫn tại Công văn số 1221TCT/DNNN mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp du lịch và dịch vụ:
- Đảm bảo tính minh bạch tài chính: Giúp doanh nghiệp chuẩn hóa quy trình hạch toán kế toán đối với các khoản thu hộ, chi hộ và phí dịch vụ phát sinh đặc thù trong ngành du lịch.
- Tối ưu hóa chi phí thuế hợp pháp: Giúp doanh nghiệp chủ động xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ chặt chẽ để biến khoản chi phí phục vụ thành chi phí được trừ hợp lệ, giảm thiểu rủi ro bị truy thu thuế khi cơ quan thuế thực hiện thanh tra, kiểm tra.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1221TCT/DNNN | Hà Nội, ngày 27 tháng 04 năm 2005 |
Kính gửi: Công ty cổ phần khách sạn Sài Gòn
Trả lời công văn số 48/SGH/KT ngày 20/9/2004 và công văn số 55/SGH/KT/04 ngày 20/12/2004 của Công ty cổ phần khách sạn Sài Gòn về việc thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) trên phí phục vụ du lịch theo công văn số 3952TC/TCT của Bộ Tài chính. Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1. Về thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp:
- Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp được thực hiện từ 1/1/1999 do vậy Thông tư 11/TC/CĐKT ngày 08/02/1996 không còn hiệu lực áp dụng kể từ ngày 1/1/1999.
Theo đó, ngày 10/5/1999 Tổng cục Du lịch có công văn số 498/TCDL-KHĐT về việc cho tiếp tục thu khoản phí phục vụ trong ngành du lịch, Bộ Tài chính có công văn số 3952TC/TCT ngày 11/8/1999 hướng dẫn về khoản phí phục vụ du lịch nêu trên. Tại Điểm 3 công văn số 3952TC/TCT đã hướng dẫn:
“Ngày 1/1/1999 Luật thuế GTGT có hiệu lực, các đơn vị kinh doanh du lịch nếu có thu phí phục vụ du lịch phải nộp thuế GTGT và thuế thu nhập doanh nghiệp (sau khi đã trừ các Khoản chi phí để tạo ra khoản thu này) theo quy định hiện hành.”
Tại thời điểm ban hành công văn số 3952TC/TCT nêu trên thì các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn, du lịch bị khống chế mức trích quỹ khen thưởng, phúc lợi đồng thời phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung 25% sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với mức 32%. Tại Điểm 3 công văn số 3952TC/TCT nêu trên, Bộ Tài chính đã quy định cụ thể các khoản chi tặng thêm là nhằm khuyến khích chất lượng, hiệu quả kinh doanh du lịch, khách sạn.
2. Về thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao:
Theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao và các văn bản hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh thì cá nhân có thu nhập chịu thuế bao gồm cả tiền lương, tiền thưởng và các khoản thu nhập mang tính chất tiền lương tiền công đều phải nộp thuế thu nhập.
Thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao là hai phạm trù riêng biệt, đối tượng và phạm vi điều chỉnh của 2 loại thuế này hoàn toàn khác nhau. Việc các cá nhân của Công ty nộp thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao độc lập với việc Công ty nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Do vậy các cá nhân của Công ty có thu nhập chịu thuế thì phải nộp thuế thu nhập theo quy định của pháp luật.
Tổng cục Thuế trả lời để Công ty cổ phần khách sạn Sài Gòn biết và thực hiện./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ |
- 1 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 1997
- 2 Luật Thuế giá trị gia tăng 1997
- 3 Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao năm 2001
- 4 Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao năm 2004
- 5 Công văn 3952 TC/TCT hướng dẫn phí phục vụ trong ngành du lịch do Bộ Tài chính ban hành