Tổng quan về Công văn số 1718/TCT-TS
Công văn số 1718/TCT-TS do Tổng cục Thuế ban hành nhằm hướng dẫn và làm rõ các quy định liên quan đến nghĩa vụ tài chính về bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản. Văn bản này đóng vai trò quan trọng trong việc thống nhất phương pháp tính, kê khai và nộp phí bảo vệ môi trường, đồng thời tăng cường công tác quản lý thuế đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khai khoáng tại Việt Nam.
Các nội dung trọng tâm về bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản
Dựa trên các quy định pháp luật hiện hành và nội dung hướng dẫn của Tổng cục Thuế, các vấn đề cốt lõi được điều chỉnh bao gồm:
- Đối tượng chịu phí và người nộp phí: Xác định rõ các tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động khai thác khoáng sản (bao gồm cả khai thác tận thu) thuộc đối tượng phải kê khai và nộp phí bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật.
- Căn cứ tính phí bảo vệ môi trường: Phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản được xác định dựa trên số lượng khoáng sản nguyên khai thực tế khai thác trong kỳ, mức phí tương ứng của từng loại khoáng sản và hệ số quy đổi (nếu có) từ quặng thành phẩm sang quặng nguyên khai để đảm bảo tính đúng, tính đủ.
- Phương pháp kê khai và nộp phí: Hướng dẫn người nộp thuế thực hiện tự tính, tự khai và tự nộp phí bảo vệ môi trường vào ngân sách nhà nước theo định kỳ hàng tháng. Thời hạn nộp tờ khai và nộp phí tuân thủ nghiêm ngặt theo quy định của Luật Quản lý thuế hiện hành.
- Phối hợp liên ngành trong quản lý: Nhấn mạnh sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan Thuế và cơ quan Tài nguyên và Môi trường tại địa phương để đối chiếu, kiểm tra số liệu về sản lượng khoáng sản khai thác thực tế, từ đó phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp kê khai không trung thực.
Ý nghĩa và tác động của văn bản
Công văn 1718/TCT-TS giúp tháo gỡ các vướng mắc thực tế cho các cục thuế địa phương và doanh nghiệp khai thác khoáng sản trong việc thực thi nghĩa vụ bảo vệ môi trường. Việc áp dụng đúng hướng dẫn của công văn góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của doanh nghiệp đối với môi trường, đồng thời tạo sự minh bạch, công bằng và hạn chế thất thu ngân sách nhà nước trong hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1718/TCT-TS | Hà Nội, ngày 15 tháng 05 năm 2006 |
| Kính gửi: | Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại Hoàng Hải |
Trả lời công văn số 13/CV-Cty ngày 24/3/2006 của Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại Hoàng Hải về việc bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1. Về phí bảo vệ môi trường:
Tại Điểm 1 Mục I Thông tư số 105/2005/TT-BTC ngày 30/11/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 137/2005/NĐ-CP ngày 09/11/2005 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản “đất” thuộc đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản.
Tại Điểm 2 Mục I Thông tư số 105/2005/TT-BTC nêu trên quy định: “Đối tượng nộp phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản là các tổ chức, cá nhân (trong nước và nước ngoài) khai thác các loại khoáng sản quy định tại Điểm 1 Mục này”.
Tại Điểm 12.8 Mục III Phần B Thông tư số 128/2003/TT-BTC ngày 22/12/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 của Chính phủ quy định chi Tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định: “Các Khoản phí, lệ phí mà cơ sở kinh doanh thực nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí” là Khoản chi phí hợp lý trong sản xuất kinh doanh của cơ sở kinh doanh và được trừ để tính thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp”.
Do đó, trường hợp Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng và thương mại Hoàng Hải có thực hiện khai thác đất nơi khác về để đắp mặt bằng hoặc để bán thì Công ty thuộc đối tượng phải nộp phí bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật. Phí bảo vệ môi trường Công ty đã thực nộp vào ngân sách nhà nước được hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh hợp lý để tính thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Khi bán khoáng sản Công ty phải sử dụng hóa đơn bán hàng theo quy định và không được ghi phí bảo vệ môi trường thành một dòng riêng trên hóa đơn.
Trường hợp Công ty thực hiện việc đào đất để làm móng công trình, đào đất chỗ cao để đắp vào chỗ thấp trong cùng một công trình hoặc đào phá các móng đường, mặt đường, nền nhà cũ để san lấp ngay trên cùng công trường đang thi công xây dựng thì không phải nộp phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản cho việc làm đất trong quá trình thi công.
2. Về nộp phí bảo vệ môi trường được thực hiện theo quy định tại Điểm 2 Mục II Thông tư số 105/2005/TT-BTC nêu trên.
3. Về việc lập dự toán, thanh quyết toán đối với các công trình xây dựng đề nghị Công ty liên hệ với Bộ Xây dựng để được hướng dẫn cụ thể.
Tổng cục Thuế trả lời để Công ty được biết và liên hệ với Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên để được hướng dẫn cụ thể./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1 Thông tư 105/2005/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định 137/2005/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản do Bộ Tài chính ban hành
- 2 Thông tư 128/2003/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 164/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp do Bộ Tài chính ban hành
- 1 Thông tư 105/2005/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định 137/2005/NĐ-CP về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản do Bộ Tài chính ban hành
- 2 Thông tư 128/2003/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 164/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp do Bộ Tài chính ban hành
- 3 Công văn 2003/TCT-CS giải đáp về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản do Tổng cục Thuế ban hành
- 4 Công văn 2401/TCT-CS năm 2013 giải đáp chính sách về thuế bảo vệ môi trường do Tổng cục Thuế ban hành