Tóm tắt Công văn số 1868 TM/XNK về việc kiểm tra C/O mẫu D theo yêu cầu của Thái Lan
Công văn số 1868 TM/XNK được Bộ Thương mại ban hành ngày 28/10/2002 nhằm giải quyết các yêu cầu từ phía Thái Lan liên quan đến việc kiểm tra, xác minh tính hợp lệ của Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) mẫu D. Đây là văn bản chỉ đạo nghiệp vụ quan trọng trong bối cảnh thực hiện các cam kết về ưu đãi thuế quan trong khu vực ASEAN.
Thông tin tổng quan về văn bản
- Tên văn bản: Công văn số 1868 TM/XNK về việc kiểm tra C/O mẫu D theo yêu cầu của Thái Lan.
- Cơ quan ban hành: Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương).
- Ngày ban hành: 28/10/2002.
- Phạm vi áp dụng: Hoạt động kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa đối với các lô hàng xuất khẩu từ Việt Nam sang Thái Lan có sử dụng C/O mẫu D.
Các nội dung chỉ đạo và quy định cốt lõi
- Xác minh tính hợp lệ của C/O mẫu D: Thực hiện việc kiểm tra, đối chiếu thông tin trên Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa mẫu D đã cấp cho các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang Thái Lan theo yêu cầu cụ thể từ phía cơ quan thẩm quyền nước bạn.
- Tuân thủ quy tắc xuất xứ CEPT/AFTA: Đảm bảo các tiêu chuẩn xuất xứ hàng hóa được áp dụng đúng quy định của Hiệp định về Chương trình Ưu đãi Thuế quan có Hiệu lực Chung (CEPT) thuộc Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA).
- Phối hợp liên ngành: Tăng cường sự phối hợp giữa Bộ Thương mại, cơ quan cấp C/O và cơ quan Hải quan để xử lý nhanh chóng, chính xác các yêu cầu hậu kiểm từ phía Thái Lan, tránh gây ách tắc cho hàng hóa xuất khẩu hợp pháp.
Tác động và lưu ý đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu
- Nâng cao ý thức tuân thủ: Doanh nghiệp cần đảm bảo tính chính xác, trung thực của hồ sơ xin cấp C/O mẫu D, tránh các hành vi gian lận xuất xứ.
- Lưu trữ hồ sơ nghiêm ngặt: Doanh nghiệp có nghĩa vụ lưu trữ đầy đủ chứng từ, hồ sơ kỹ thuật, hóa đơn mua bán nguyên liệu để phục vụ công tác hậu kiểm khi có yêu cầu từ cơ quan chức năng trong nước hoặc nước nhập khẩu.
- Bảo vệ quyền lợi ưu đãi thuế quan: Việc thực hiện tốt công tác kiểm tra C/O giúp bảo vệ quyền lợi được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt của hàng hóa Việt Nam khi nhập khẩu vào thị trường Thái Lan.
| BỘ THƯƠNG MẠI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1868 TM/XNK | Hà Nội, ngày 28 tháng 10 năm 2002 |
Kính gửi: Phòng QLXNK thành phố Hồ Chí Minh
Trả lời fax ngày 25/10/2002 của Phòng về việc kiểm tra C/O mẫu D theo yêu cầu của Thái Lan, Vụ có ý kiến như sau:
Trong thư gửi của Thái lan, Hội nghị của các nhà công nghiệp bột mỳ diễn ra tại Bali từ ngày 13-14 không có sự tham gia của Bộ Thương mại, đồng thời phía Thái lan cũng dẫn chiếu rằng tại Hội nghị này đã nghi nhận thực tế khó đạt được tỷ lệ 40% hàm lượng nội địa ASEAN đối với sản phẩm bột mỳ, do đó vấn đề này sẽ chuyển nhóm đặc trách nghiên cứu phương pháp khác để tính toán tỷ lệ nội địa ASEAN, do đó chưa có tài liệu như Phòng yêu cầu.
Theo ý kiến của Vụ, đề nghị chính của Thái lan là Phòng cần xác định những vấn đề sau:
- Các tiêu chí xác định hàm lượng của mẫu D đã cấp có chính xác hay không?
- Cung cấp các bản kê khai chi phí và giá thành của nhà sản xuất bột mỳ Việt Nam, nêu rõ nguyên vật liệu nhập khẩu từ đâu về.
Đây là vấn đề hiện nay Thái lan đang có tranh chấp với một số nước trong khu vực, cho nên việc xác định rõ những yêu cầu trên là một việc làm cần thiết. Đề nghị Phòng sớm liên hệ với cơ quan giám định và các đơn vị sản xuất bột mỳ để chứng minh được với Thái lan hàm lượng nội địa hoá của Việt Nam.
|
| T.L BỘ TRƯỞNG BỘ THƯƠNG MẠI |
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.