Giới thiệu về Công văn số 193TCT/CS
Công văn số 193TCT/CS được Tổng cục Thuế ban hành ngày 14/01/2003 nhằm hướng dẫn các Cục Thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các doanh nghiệp thống nhất thực hiện việc xử lý đối với các hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào kê khai chậm so với thời hạn quy định. Đây là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng trong giai đoạn áp dụng Luật Thuế giá trị gia tăng, giải quyết các vướng mắc thực tế của doanh nghiệp về việc khấu trừ thuế và hạch toán chi phí đối với các hóa đơn bị bỏ sót.
Quy định về thời hạn kê khai hóa đơn GTGT đầu vào
Theo quy định pháp luật về thuế GTGT tại thời điểm ban hành công văn, doanh nghiệp phải thực hiện kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào phát sinh trong tháng vào tờ khai thuế của tháng đó. Thời hạn kê khai chậm nhất đối với các hóa đơn bỏ sót hoặc chưa kịp kê khai là trong vòng 3 tháng kể từ tháng phát sinh hóa đơn. Công văn 193TCT/CS nhấn mạnh các nguyên tắc xử lý khi doanh nghiệp vượt quá thời hạn này:
- Các hóa đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong tháng nào phải được kê khai, khấu trừ vào kỳ tính thuế của tháng đó để đảm bảo tính liên tục và kịp thời của công tác quản lý thuế.
- Trường hợp do nguyên nhân khách quan (như gửi chậm qua bưu điện, đối tác bàn giao hóa đơn trễ, thiên tai, hỏa hoạn...), doanh nghiệp được phép kê khai bổ sung trong các tháng tiếp theo nhưng tuyệt đối không được quá thời hạn 3 tháng quy định.
Phương án xử lý đối với hóa đơn kê khai chậm quá 3 tháng
Đối với các hóa đơn GTGT đầu vào kê khai chậm quá thời hạn 3 tháng kể từ tháng phát sinh ghi trên hóa đơn, Tổng cục Thuế hướng dẫn nguyên tắc xử lý nghiêm ngặt nhằm tránh việc trục lợi và quản lý chặt chẽ hóa đơn:
- Không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào: Cơ quan thuế kiên quyết không chấp nhận khấu trừ đối với số thuế GTGT đầu vào ghi trên các hóa đơn kê khai chậm quá thời hạn 3 tháng. Doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm về việc chậm trễ này.
- Hạch toán vào chi phí hợp lý: Để hỗ trợ doanh nghiệp giảm bớt thiệt hại tài chính khi mua hàng hóa, dịch vụ thực tế có hóa đơn hợp pháp nhưng bị trễ hạn kê khai, Tổng cục Thuế cho phép tính phần thuế GTGT không được khấu trừ này vào giá trị mua của hàng hóa, dịch vụ hoặc hạch toán vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN).
- Điều kiện để được tính vào chi phí: Hóa đơn kê khai chậm chỉ được chấp nhận hạch toán vào chi phí hợp lý nếu đảm bảo tính hợp pháp, hợp lệ của hóa đơn (hóa đơn thật, có đầy đủ chữ ký, đóng dấu, ghi đúng thông tin doanh nghiệp) và có chứng từ thanh toán thực tế chứng minh việc mua bán hàng hóa, dịch vụ là có thật.
Trách nhiệm của cơ quan thuế và người nộp thuế
Công văn cũng phân định rõ trách nhiệm của các bên trong quá trình thực hiện nhằm đảm bảo tính minh bạch và ngăn ngừa gian lận thuế:
- Đối với người nộp thuế (Doanh nghiệp): Có trách nhiệm tự rà soát, phân loại các hóa đơn đầu vào, chủ động kê khai đúng thời hạn. Đối với các hóa đơn bị chậm, doanh nghiệp phải tự loại ra khỏi tờ khai thuế GTGT và thực hiện hạch toán tăng chi phí theo đúng hướng dẫn. Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính xác thực của các giao dịch mua bán liên quan đến hóa đơn kê khai chậm.
- Đối với cơ quan thuế các cấp: Có nhiệm vụ tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc kê khai thuế của doanh nghiệp. Khi phát hiện các trường hợp cố tình kê khai khấu trừ hóa đơn quá hạn 3 tháng, cơ quan thuế sẽ thực hiện truy thu thuế GTGT, xử phạt vi phạm hành chính về thuế theo quy định. Đồng thời, cơ quan thuế cần hướng dẫn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hạch toán đúng phần thuế GTGT không được khấu trừ vào chi phí hợp lý của kỳ tính thuế TNDN tương ứng.
Ý nghĩa thực tiễn của Công văn 193TCT/CS
Mặc dù quy định về thời hạn kê khai hóa đơn GTGT đã có nhiều thay đổi qua các thời kỳ (hiện nay theo Luật Thuế GTGT sửa đổi là không bị giới hạn thời hạn kê khai trước khi cơ quan thuế công bố quyết định thanh tra, kiểm tra), Công văn số 193TCT/CS vẫn mang ý nghĩa lịch sử và thực tiễn quan trọng:
- Giải quyết hài hòa lợi ích giữa Nhà nước và doanh nghiệp trong giai đoạn đầu vận hành cơ chế thuế GTGT tại Việt Nam.
- Tạo tiền đề pháp lý rõ ràng cho việc xử lý tài chính đối với các khoản thuế GTGT không được khấu trừ do lỗi chủ quan hoặc khách quan của doanh nghiệp.
- Giúp các cán bộ thuế có cơ sở thống nhất để xử lý các hồ sơ quyết toán thuế, tránh tình trạng áp dụng tùy tiện, không đồng nhất giữa các địa phương.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 193TCT/CS | Hà Nội, ngày 14 tháng 1 năm 2003 |
Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Sơn La
Trả lời công văn số 585 CT/QD ngày 30/10/2002 của Cục thuế tỉnh Sơn La về việc xử lý một số vướng mắc hoá đơn, chứng từ, Tổng cục Thuế có ý kiến có ý kiến như sau:
1. Tại điểm 1, Mục III, phần B Thông tư số 122/2000/TT- BTC ngày 29/12/2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 79/2002/NĐ-CP ngày 29/12/2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế GTGT quy định: “Thuế đầu vào của hàng hoá, dịch vụ được khấu trừ phát sinh trong tháng nào được kê khai khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp của tháng đó, không phân biệt đã dùng hay còn để trong kho. Trường hợp hoá đơn GTGT hoặc chứng từ nộp thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ mua vào phát sinh trong tháng nhưng chưa kê khai kịp trong tháng thì được kê khai khấu trừ vào các tháng tiếp sau, trường hợp do lý do khách quan thì được khấu trừ trong thời gian tối đa là 03 tháng tiếp sau”. Theo hướng dẫn trên thì chỉ có hóa đơn GTGT nếu chưa kê khai trừ thì được kê khai khấu trừ vào các tháng tiếp theo; còn hoá đơn bán hàng và bảng kê phát sinh tháng nào thì kê khai khấu trừ vào tháng đó
2. Trong thời gian đầu thực hiện Luật thuế GTGT, một số đơn vị có khó khăn khách quan chưa kê khai kịp theo thời hạn trên. Vì vậy, Bộ Tài chính có công văn số 1084/TC/TCT ngày 5/3/2002 về việc khấu trừ thuế GTGT đã hướng dẫn xử lý đối với các hoá đơn GTGT để quá 3 tháng mới kê khai khấu trừ như sau: “Các doanh nghiệp mua hàng hoá, dịch vụ đã nhận hoá đơn GTGT của bên bán nhưng chưa kê khai tính thuế kịp thời trong thời gian quy định 3 tháng, nếu xác định kê khai chậm do nguyên nhân khách quan thì được tính khấu trừ thuế GTGT đối với các hoá đơn sau:
- Hoá đơn đã lập trước ngày 30/9/2001
- Là hoá đơn hợp pháp xác định bên bán đã kê khai nộp thuế GTGT.
Đối với các hoá đơn hợp pháp khác không được khấu trừ thuế, số thuế GTGT do kê khai chậm được hạch toán vào chi phí khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp số tiền đã thanh toán ghi trên hoá đơn bao gồm cả thuế GTGT”.
Trường hợp các doanh nghiệp lập hoá đơn mới thay thế cho số hoá đơn cũ giao cho Công ty cấp nước tỉnh Sơn La để kê khai khấu trừ vào năm 2002 là đã vi phạm chế độ phát hành, quản lý và sử dụng hoá đơn. Do vậy, Công ty cấp nước tỉnh Sơn La không được sử dụng hoá đơn lập lại để kê khai khấu trừ hoặc hoàn thuế giá trị gia tăng.
Đề nghị Cục thuế kiểm tra việc kê khai nộp thuế của Công ty cấp nước tỉnh Sơn La và các đơn vị nhận thi công để xử lý theo hướng dẫn nêu trên./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ |