Giới thiệu chung về Công văn số 1998/TCHQ-GSQL
Công văn số 1998/TCHQ-GSQL do Tổng cục Hải quan ban hành nhằm hướng dẫn các Cục Hải quan tỉnh, thành phố thống nhất thực hiện thủ tục hải quan đối với mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ xuất khẩu. Văn bản này đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường quản lý nhà nước, chống gian lận xuất xứ, và đảm bảo tính hợp pháp của nguồn gốc lâm sản xuất khẩu theo quy định pháp luật hiện hành về Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp Việt Nam (VNTLAS).
Các nội dung trọng tâm của Công văn số 1998/TCHQ-GSQL:
1. Quy định về hồ sơ hải quan đối với sản phẩm gỗ xuất khẩu
Để đảm bảo tính hợp pháp của nguồn gốc gỗ, doanh nghiệp khi làm thủ tục xuất khẩu phải chuẩn bị và xuất trình đầy đủ bộ hồ sơ hải quan theo quy định. Các chứng từ cốt lõi bao gồm:
- Tờ khai hải quan xuất khẩu theo các chỉ tiêu thông tin quy định.
- Hóa đơn thương mại hoặc chứng từ có giá trị tương đương trong trường hợp người mua phải thanh toán cho người bán.
- Bảng kê lâm sản (Bảng kê lâm sản xuất khẩu) được lập theo đúng biểu mẫu quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Bảng kê này phải thể hiện rõ ràng thông tin về chủng loại gỗ, quy cách, số lượng và khối lượng sản phẩm.
- Hồ sơ nguồn gốc lâm sản: Tùy thuộc vào nguồn gốc gỗ (gỗ khai thác từ rừng trồng trong nước, gỗ nhập khẩu, hoặc gỗ tịch thu thanh lý), doanh nghiệp phải xuất trình các chứng từ chứng minh nguồn gốc hợp pháp tương ứng như Bản tự kê khai, xác nhận của cơ quan Kiểm lâm sở tại hoặc hóa đơn mua bán liên quan.
2. Hướng dẫn kiểm tra, giám sát hải quan đối với sản phẩm gỗ
Tổng cục Hải quan yêu cầu các chi cục hải quan cửa khẩu và lực lượng kiểm tra thực hiện nghiêm túc các bước nghiệp vụ sau:
- Kiểm tra hồ sơ giấy tờ: Đối chiếu kỹ lưỡng thông tin trên tờ khai hải quan với Bảng kê lâm sản và các chứng từ chứng minh nguồn gốc. Đặc biệt lưu ý kiểm tra tính hợp lệ của con dấu, chữ ký xác nhận của cơ quan Kiểm lâm (nếu có) hoặc tính logic của thông tin tự khai của doanh nghiệp.
- Kiểm tra thực tế hàng hóa: Đối với các lô hàng thuộc diện phải kiểm tra thực tế (luồng đỏ) hoặc có dấu hiệu nghi vấn, công chức hải quan phải thực hiện đo đạc, đối chiếu thực tế về chủng loại gỗ, kích thước, số lượng so với khai báo trên Bảng kê lâm sản. Trường hợp phát hiện sai lệch vượt quá dung sai cho phép, phải lập biên bản và xử lý theo quy định.
3. Cơ chế phối hợp giữa cơ quan Hải quan và cơ quan Kiểm lâm
Để nâng cao hiệu quả kiểm soát và ngăn chặn kịp thời các hành vi gian lận, Công văn nhấn mạnh việc phối hợp liên ngành:
- Trong quá trình làm thủ tục hải quan, nếu phát hiện nghi vấn về tính hợp pháp của nguồn gốc gỗ hoặc tính xác thực của Bảng kê lâm sản, cơ quan Hải quan chủ động trao đổi thông tin, gửi văn bản đề nghị cơ quan Kiểm lâm sở tại hoặc cơ quan Kiểm lâm vùng phối hợp xác minh.
- Cơ quan Hải quan có trách nhiệm cung cấp thông tin về các lô hàng gỗ xuất khẩu có dấu hiệu vi phạm để cơ quan Kiểm lâm hỗ trợ giám định chủng loại gỗ (đặc biệt là các loài gỗ thuộc Danh mục CITES hoặc gỗ quý hiếm nhóm IA, IIA).
- Kết quả xác minh từ cơ quan Kiểm lâm là cơ sở pháp lý để cơ quan Hải quan quyết định thông quan hoặc xử lý vi phạm hành chính, hình sự đối với lô hàng.
4. Trách nhiệm của doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm gỗ
Doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất khẩu sản phẩm gỗ phải tuân thủ nghiêm ngặt các nghĩa vụ sau:
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của các thông tin khai báo trên tờ khai hải quan và các chứng từ kèm theo, đặc biệt là nguồn gốc hợp pháp của nguyên liệu gỗ sử dụng để chế biến sản phẩm xuất khẩu.
- Lập và lưu trữ đầy đủ hồ sơ lâm sản tại doanh nghiệp theo đúng quy định của pháp luật về quản lý lâm sản, sẵn sàng xuất trình khi cơ quan có thẩm quyền thực hiện kiểm tra sau thông quan hoặc thanh tra chuyên ngành.
- Chủ động phân loại doanh nghiệp nhóm I hoặc nhóm II theo quy định của Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp để áp dụng các biện pháp tự chứng minh nguồn gốc phù hợp.
5. Tổ chức thực hiện và chỉ đạo đối với các đơn vị Hải quan địa phương
- Cục Hải quan các tỉnh, thành phố có trách nhiệm phổ biến, quán triệt nội dung hướng dẫn tại Công văn này đến toàn thể công chức hải quan làm công tác thủ tục và kiểm tra giám sát.
- Tăng cường công tác thu thập thông tin, phân tích rủi ro đối với các doanh nghiệp xuất khẩu gỗ sang các thị trường lớn có yêu cầu khắt khe về nguồn gốc (như Mỹ, EU, Nhật Bản) nhằm kịp thời phát hiện các hành vi giả mạo xuất xứ hoặc lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại.
| TỔNG CỤC HẢI QUAN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1998TCHQ/GSQL | Hà Nội, ngày 24 tháng 05 năm 2005 |
| Kính gửi: | Công ty TNHH đồ gỗ & nội thất Nhật Việt |
Trả lời công văn số 07/05/CV ngày 18/5/2005 của Công ty TNHH đồ gỗ & nội thất Nhật Việt, về việc xuất khẩu sản phẩm gỗ, Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:
Theo quy định tại Điểm 2, Mục V, Thông tư số 123/2003/TT-BNN ngày 14/11/2003 của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện Nghị định số 11/2002/NĐ-CP ngày 22/01/2002 của Chính phủ về việc quản lý các hoạt động xuất khẩu nhập khẩu và quá cảnh các loại động vật thực vật hoang dã, thì gỗ nguyên liệu (trừ sản phẩm gỗ) thuộc nhóm II A phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 48/2002/NĐ-CP ngày 22/4/2002 mà không quy định tại các phụ lục của Công ước CITES được thực hiện theo Điều 9, chương IV Nghị định số 11 nêu trên: phải có giấy chứng chỉ nhập khẩu do Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam cấp.
Như vậy nếu hàng hóa xuất khẩu của Công ty là sản phẩm gỗ thì không phải xin giấy chứng chỉ nhập khẩu do Cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam cấp.
Đề nghị Công ty liên hệ với Hải quan cửa khẩu, trên cơ sở thực tế hàng hóa, để được xem xét giải quyết theo quy định./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC HẢI QUAN |
- 1 Nghị định 11/2002/NĐ-CP về việc quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và quá cảnh các loài động vật, thực vật hoang dã
- 2 Nghị định 48/2002/NĐ-CP sửa đổi danh mục thực vật, động hoang dã quý hiếm ban hành kèm Nghị định 18/HĐBT năm 1992 quy định danh mục thực vật rừng, động vật rừng quý hiếm và chế độ quản lý, bảo vệ
- 3 Thông tư 123/2003/TT-BNN hướng dẫn Nghị định 11/2002/NĐ-CP về quản lý các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và quá cảnh các loài động vật, thực vật hoang dã do Bộ Nội vụ ban hành
- 1 Công văn số 4515/TCHQ-GSQL ngày 19/09/2002 của Tổng cục Hải quan về việc xác nhận giấy phép CITES
- 2 Công văn số 343/KL-VP CITES ngày 21/04/2003 của Cục Kiểm lâm-Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc phối hợp thực thi Nghị định 11/2002/NĐ-CP của Chính phủ và Công ước CITES
- 3 Nghị định 11/2002/NĐ-CP về việc quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và quá cảnh các loài động vật, thực vật hoang dã
- 4 Nghị định 48/2002/NĐ-CP sửa đổi danh mục thực vật, động hoang dã quý hiếm ban hành kèm Nghị định 18/HĐBT năm 1992 quy định danh mục thực vật rừng, động vật rừng quý hiếm và chế độ quản lý, bảo vệ
- 5 Thông tư 123/2003/TT-BNN hướng dẫn Nghị định 11/2002/NĐ-CP về quản lý các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và quá cảnh các loài động vật, thực vật hoang dã do Bộ Nội vụ ban hành