Giới thiệu về Công văn số 2102/TCT-TS của Tổng cục Thuế
Công văn số 2102/TCT-TS do Tổng cục Thuế ban hành nhằm hướng dẫn và làm rõ các vướng mắc liên quan đến việc khấu trừ tiền bồi thường, hỗ trợ về đất vào tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp của các chủ đầu tư dự án. Đây là văn bản pháp lý quan trọng giúp các doanh nghiệp và cơ quan thuế địa phương thống nhất phương án thực hiện, đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho nhà đầu tư khi thực hiện giải phóng mặt bằng.
Nguyên tắc khấu trừ tiền bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng
Theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế, việc khấu trừ tiền bồi thường, hỗ trợ về đất được thực hiện dựa trên các nguyên tắc cốt lõi sau:
- Đối tượng áp dụng: Các tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất, tự nguyện ứng trước tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo phương án đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
- Hạn mức khấu trừ: Số tiền bồi thường, hỗ trợ về đất đã ứng trước được trừ vào tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải nộp cho Nhà nước. Tuy nhiên, mức khấu trừ tối đa không vượt quá số tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp của dự án.
- Xử lý phần chênh lệch: Trường hợp số tiền bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng lớn hơn số tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất phải nộp, phần chênh lệch còn lại sẽ được tính vào vốn đầu tư của dự án theo quy định của pháp luật về đầu tư và xây dựng.
Điều kiện để được ghi nhận và khấu trừ chi phí bồi thường
Để được cơ quan thuế chấp thuận khấu trừ khoản tiền bồi thường, hỗ trợ về đất vào nghĩa vụ tài chính, chủ đầu tư cần đáp ứng đầy đủ các điều kiện nghiêm ngặt:
- Phải có phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt theo đúng quy định của pháp luật đất đai tại thời điểm thực hiện.
- Có chứng từ, hóa đơn hợp pháp chứng minh việc chủ đầu tư đã thực tế chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người bị thu hồi đất theo đúng phương án đã được duyệt.
- Có văn bản xác nhận của cơ quan chức năng (như Ban bồi thường giải phóng mặt bằng hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện) về số tiền bồi thường, hỗ trợ thực tế đã chi trả.
Quy trình phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc xác định số tiền khấu trừ
Công văn cũng nhấn mạnh vai trò phối hợp liên ngành trong việc xác định nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất:
- Cơ quan Tài nguyên và Môi trường: Có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xác định và thẩm định số tiền bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng được khấu trừ, sau đó chuyển thông tin sang cơ quan Thuế.
- Cơ quan Thuế: Căn cứ vào hồ sơ địa chính và văn bản xác nhận số tiền bồi thường được khấu trừ do cơ quan có thẩm quyền chuyển đến để thực hiện thông báo nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất sau khi đã giảm trừ khoản tiền được khấu trừ theo quy định.
Ý nghĩa thực tiễn của văn bản đối với doanh nghiệp
Văn bản hướng dẫn này giúp tháo gỡ các điểm nghẽn về thủ tục hành chính, tránh tình trạng chồng chéo trong việc xác định chi phí hợp lệ của doanh nghiệp. Việc làm rõ cơ chế khấu trừ giúp chủ đầu tư chủ động hơn trong việc cân đối dòng tiền, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng và triển khai dự án đúng thời hạn.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2102/TCT-TS | Hà Nội, ngày 14 tháng 06 năm 2006 |
Kính gửi: Công ty TNHH Vị Hảo
Trả lời công văn số 25/CV-VH ngày 24/4/2006 của Công ty TNHH Vị Hảo về khấu trừ tiền bồi thường, hỗ trợ về đất, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Theo Khoản 2, Mục IV, phần A, Thông tư số 117/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất thì: “Trường hợp người sử dụng đất, mà trước đó phải bồi thường về đất hoặc bồi thường chi phí đầu tư vào đất (gọi chung là bồi thường về đất), hỗ trợ về đất cho người bị thu hồi đất thì được trừ tiền bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, nhưng mức được trừ không vượt quá tiền sử dụng đất phải nộp”;
Theo Khoản 2, Điều 6 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư nhà nước thu hồi đất quy định: “Người bị thu hồi đất đang sử dụng vào Mục đích nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng Mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời Điểm có quyết định thu hồi”;
Theo Công văn số 4031/UBND-SX ngày 30/8/2005 của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Bình Dương về việc đền bù giải tỏa mộ của Công ty TNHH Vị Hảo; Biên bản số 90/BB-UBND ngày 25/8/2005 của Ủy ban nhân dân huyện Tân Uyên và Quyết định số 91/QĐ-UBND ngày 13/9/2005 của UBND xã Thái Hòa về việc thành lập Ban chỉ đạo đền bù và hỗ trợ về đất cho dân tại Gò Mù Cua ấp Phước Thái, xã Thái Hòa.
Căn cứ vào các quy định trên đây thì Công ty TNHH Vị Hảo được trừ vào số tiền sử dụng đất phải nộp đối với số tiền bồi thường, hỗ trợ về đất do mua đất nghĩa trang để bàn giao cho xã di dời mộ vắng chủ và trả tiền cho dân tự mua đất để giải tỏa mộ (có chũ) theo mức chi trả ghi trên chứng từ có ký nhận của người chuyển nhượng quyền sử dụng đất (đối với trường hợp mua đất) hoặc người nhận tiền để mua đất và có xác nhận của Ban chỉ đạo đền bù giải phóng mặt bằng của xã Thái Hòa, nhưng mức được trừ không vượt quá tiền sử dụng đất phải nộp.
Tổng cục Thuế thông báo để Công ty TNHH Vị Hảo biết và liên hệ với Cục thuế tỉnh Bình Dương để thực hiện./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1 Nghị định 197/2004/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- 2 Thông tư 117/2004/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định 198/2004/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất do Bộ Tài chính ban hành
- 3 Công văn 65/TCT-CS về khấu trừ tiền bồi thường, hỗ trợ đất vào tiền sử dụng đất do Tổng cục Thuế ban hành