Tổng quan về Công văn số 2164/TCT-TS
Công văn số 2164/TCT-TS do Tổng cục Thuế ban hành nhằm giải quyết các vấn đề phát sinh và hướng dẫn xử lý đối với lượng biên lai thu tiền phí, lệ phí có mệnh giá còn tồn đọng tại các cơ quan, tổ chức thu phí, lệ phí. Văn bản này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và đúng quy định pháp luật trong công tác quản lý ấn chỉ, hóa đơn và chứng từ thu ngân sách nhà nước.
Các nội dung trọng tâm của Công văn số 2164/TCT-TS
- Xử lý số lượng biên lai thu phí, lệ phí có mệnh giá còn tồn
- Các đơn vị, tổ chức thu phí và lệ phí có trách nhiệm thực hiện rà soát, kiểm kê và phân loại chi tiết số lượng biên lai thu tiền phí, lệ phí có mệnh giá còn tồn đọng chưa sử dụng.
- Hướng dẫn cụ thể về quy trình, thủ tục tiêu hủy hoặc tiếp tục sử dụng (nếu được phép) đối với các loại biên lai có mệnh giá nhằm tránh lãng phí và bảo đảm tuân thủ đúng chế độ quản lý hóa đơn, chứng từ hiện hành.
- Ngăn chặn các hành vi gian lận, thất thoát hoặc sử dụng sai mục đích đối với các ấn chỉ, biên lai thu phí, lệ phí có mệnh giá còn tồn.
- Trách nhiệm của cơ quan thuế các cấp
- Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có nhiệm vụ phổ biến, hướng dẫn và đôn đốc các tổ chức thu phí, lệ phí trên địa bàn quản lý thực hiện nghiêm túc các nội dung tại công văn này.
- Tăng cường công tác giám sát, kiểm tra và thanh tra việc sử dụng, quyết toán, tiêu hủy biên lai thu phí, lệ phí của các đơn vị thu nhằm kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm.
- Chủ động phối hợp, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc phát sinh cho các tổ chức thu phí trong quá trình xử lý biên lai tồn đọng.
- Trách nhiệm của các tổ chức, đơn vị thu phí, lệ phí
- Chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về báo cáo tình hình sử dụng biên lai, chứng từ thu phí, lệ phí định kỳ gửi cơ quan thuế quản lý trực tiếp.
- Thực hiện đầy đủ các thủ tục quyết toán, hủy biên lai tồn theo đúng hướng dẫn của cơ quan thuế, bảo đảm số liệu kế toán khớp đúng với thực tế sử dụng.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2164/TCT-TS | Hà Nội, ngày 19 tháng 06 năm 2006 |
Kính gửi: Cục thuế tỉnh Bình Định
Trả lời công văn số 1364/CT-AC ngày 24/5/2006 của Cục thuế tỉnh Bình Định về tồn tại khi sử dụng biên lai thu tiền phí, lệ phí có mệnh giá, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1- Về việc kiểm soát hiện tượng quay vòng biên lai thu phí, lệ phí cũng như việc kiểm tra phát hiện sai phạm của các cơ quan thu phí, lệ phí: Theo quy định (tại Khoản 1, Điều 3 Quyết định số 85/2005/QĐ-BTC ngày 30/11/2005 của Bộ Tài chính) việc quản lý, sử dụng "Biên lai thu tiền phí, lệ phí có mệnh giá" phải theo quy định tại Quyết định số 30/2001/QĐ-BTC ngày 13/4/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Chế độ in, phát hành, quản lý, sử dụng ấn chỉ thuế, ngoài ra khi sử dụng biên lai cơ quan thu phí phải đóng dấu của cơ quan thu phí, lệ phí vào góc trên, bên phải liên 2 của chứng từ (phần giao cho người nộp tiền); Người thu tiền phí, lệ phí khi thu tiền phải ký tên và ghi rõ họ tên vào liên 2 của Biên lai thu tiền phí, lệ phí có mệnh giá". Việc quy định này sẽ hạn chế được hiện tượng quay vòng biên lai thu phí, lệ phí do đã có đầy đủ các chỉ tiêu để theo dõi như: tên cơ quan thu (cơ quan phát biên lai), họ và tên người thu tiền.
2- Về một số Khoản thu cần tên của người nộp phí, lệ phí để lưu hồ sơ như trình bày của Cục thuế là: cấp biển số xe, thi và cấp giấy phép lái xe thì người nộp phí, lệ phí đã có rất nhiều các loại giấy tờ đi kèm như: hóa đơn mua bán xe, biên lai nộp lệ phí trước bạ, chứng minh thư nhân dân… đi kèm hồ sơ. Vì vậy việc quy định phải có tên người nộp tiền trên biên lai thu phí, lệ phí là không cần thiết và gây phiền hà cho người nộp phí.
Tổng cục Thuế thông báo để Cục thuế tỉnh Bình Định biết và thực hiện./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1 Quyết định 85/2005/QĐ-BTC về việc in, phát hành và sử dụng các loại chứng từ thu tiền phí, lệ phí do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 2 Quyết định 30/2001/QĐ-BTC ban hành chế độ in, phát hành, quản lý, sử dụng ấn chỉ thuế do Bộ trưởng Bộ Tài Chính ban hành
- 3 Công văn 1199/TCHQ-KTTT sử dụng biên lai do Tổng cục Hải quan ban hành