Tóm tắt Công văn số 2178 TCT/NV6 về chính sách thuế đối với hoạt động tư vấn của Đoàn Luật sư
Công văn số 2178 TCT/NV6 được ban hành ngày 04/06/2002 bởi Bộ Tài chính - Tổng cục Thuế nhằm hướng dẫn và làm rõ các quy định về nghĩa vụ thuế áp dụng đối với hoạt động tư vấn pháp luật của Đoàn Luật sư.
Thông tin tổng quan về văn bản:
- Tên văn bản: Công văn số 2178 TCT/NV6 về việc thuế đối với hoạt động tư vấn của Đoàn Luật sư.
- Cơ quan ban hành: Bộ Tài chính - Tổng cục Thuế.
- Ngày ban hành: 04/06/2002.
- Phạm vi điều chỉnh: Các hoạt động dịch vụ tư vấn pháp lý, trợ giúp pháp lý có thu phí do Đoàn Luật sư thực hiện.
Nội dung trọng tâm về chính sách thuế:
Văn bản tập trung giải quyết các vướng mắc phát sinh trong việc thực hiện nghĩa vụ tài chính của Đoàn Luật sư đối với ngân sách nhà nước. Các nội dung cốt lõi bao gồm:
- Xác định đối tượng chịu thuế: Làm rõ các khoản thu từ hoạt động tư vấn pháp luật, dịch vụ pháp lý của Đoàn Luật sư có thuộc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) hay không.
- Nghĩa vụ kê khai và nộp thuế: Hướng dẫn Đoàn Luật sư thực hiện việc đăng ký thuế, kê khai thuế, sử dụng hóa đơn chứng từ và nộp các khoản thuế phát sinh từ hoạt động dịch vụ theo đúng quy định của pháp luật thuế hiện hành tại thời điểm ban hành.
- Nguyên tắc áp dụng: Đảm bảo sự bình đẳng về nghĩa vụ thuế giữa các tổ chức hành nghề luật sư và các đơn vị hoạt động tư vấn pháp lý khác theo quy định của pháp luật.
Khuyến nghị: Do văn bản được ban hành từ năm 2002, các quy định về thuế suất, ưu đãi thuế và thủ tục hành chính thuế liên quan đến Đoàn Luật sư có thể đã được thay đổi bởi các Luật Thuế GTGT, Luật Thuế TNDN và Luật Quản lý thuế hiện hành. Người đọc cần đối chiếu với các văn bản quy phạm pháp luật mới nhất để áp dụng chính xác.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2178 TCT/NV6 | Hà Nội, ngày 04 tháng 6 năm 2002 |
Kính gửi: Cục thuế thành phố Hải Phòng
Trả lời công văn số 204CV/CT-NVT ngày 4/4/2002 của Cục thuế thành phố Hải Phòng về việc giải đáp chính sách thuế, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Tại Điểm 1, Điểm 2, Mục I Phần A Thông tư số 122/2000/TT-BTC ngày 19/12/2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 79/2000/NĐ-CP ngày 29/12/2000 của Chính phủ quy định chi Tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng quy định đối tượng chịu thuế GTGT và đối tượng chịu thuế GTGT như sau:
"Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam, trừ các đối tượng không chịu thuế nêu ở Mục II Phần A Thông tư này.
Đối tượng nộp thuế GTGT là các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh. Tổ chức kinh doanh hàng hoá, dịch vụ bao gồm cả: Tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức, đơn vị sự nghiệp khác."
Tại Điểm 1d Mục I Phần A Thông tư số 18/2002/TT-BTC ngày 20/2/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành về thuế Thu nhập doanh nghiệp quy định: Các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân và các đơn vị hành chính, sự nghiệp có tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.
Theo Điều 30, Điều 31 Nghị định số 94/2001/NĐ-CP ngày 12/12/2001 của Chính phủ quy định chi Tiết thi hành Pháp lệnh Luật sư quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn Luật sư thì Đoàn Luật sư không được ký các hợp đồng dịch vụ tư vấn pháp mà các Văn phòng Luật sư, Công ty Luật hợp danh ký hợp đồng tư vấn và dịch vụ pháp lý, có trách nhiệm thu tiền và nộp các Khoản thuế vào Ngân sách nhà nước.
Căn cứ quy định trên trước ngày Nghị định số 94/2001/NĐ-CP ngày 12/12/2001 của Chính phủ nêu trên có hiệu lực thì Đoàn Luật sư có hoạt động tư vấn và dịch vụ pháp lý có thu tiền thuộc đối tượng nộp thuế GTGT và thuế thu nhập doanh nghiệp. Khi thu tiền từ các hoạt động tư vấn và dịch vụ pháp lý. Đoàn luật sư phải lập hóa đơn GTGT theo quy định.
Trường hợp, khi Luật sư thuộc Đoàn luật sư ký hợp đồng tư vấn và dịch vụ pháp lý với khách hàng nhưng không trực tiếp thu tiền mà thông qua Đoàn luật sư để thu tiền thì Đoàn luật sư phải xuất hóa đơn cho khách hàng.
Đoàn Luật sư kê khai đăng ký nộp thuế với cơ quan thuế và được mua hóa đơn GTGT để sử dụng.
Kể từ ngày Nghị định số 94/2001/NĐ-CP ngày 12/12/2001 của Chính phủ có hiệu lực thì Đoàn Luật sư không còn chức năng ký hợp đồng tư vấn và dịch vụ pháp lý có tiền. Do đó nếu phát hiện Đoàn Luật sư vẫn ký hợp đồng tư vấn và dịch vụ pháp lý thì Cục thuế đề nghị Đoàn Luật sư thực hiện đúng quy định tại Nghị định số 94/2001/NĐ-CP nêu trên.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục thuế Hải Phòng biết và hướng dẫn Đoàn Luật sư thực hiện./.
|
| KT/TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ |
- 1 Thông tư 122/2000/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 79/2000/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng do Bộ tài chính ban hành
- 2 Nghị định 94/2001/NĐ-CP Hướng dẫn Pháp lệnh Luật sư
- 3 Thông tư 18/2002/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 26/2001/NĐ-CP và Nghị định 30/1998/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp do Bộ Tài chính ban hành
- 1 Thông tư 122/2000/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 79/2000/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng do Bộ tài chính ban hành
- 2 Nghị định 94/2001/NĐ-CP Hướng dẫn Pháp lệnh Luật sư
- 3 Thông tư 18/2002/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 26/2001/NĐ-CP và Nghị định 30/1998/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp do Bộ Tài chính ban hành
- 4 Công văn 555/BTP-BTTP năm 2015 về chuyển Đoàn luật sư theo quy định của Luật luật sư do Bộ Tư pháp ban hành
- 5 Công văn 1407/BTP-BTTP năm 2023 về tăng cường phối hợp quản lý hoạt động luật sư do Bộ Tư pháp ban hành