Tổng quan về Công văn số 2415/TCHQ-GSQL
Công văn số 2415/TCHQ-GSQL được Tổng cục Hải quan ban hành nhằm giải quyết và tháo gỡ các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Thông tư số 116/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính. Thông tư này hướng dẫn về thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp chế xuất (DNCX) và hoạt động quản lý hải quan đối với DNCX. Công văn tập trung làm rõ các quy trình thủ tục, chính sách thuế và hoạt động giám sát hải quan nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động đúng quy định pháp luật.
Các nội dung hướng dẫn và giải quyết vướng mắc trọng tâm
1. Thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu tạo tài sản cố định của DNCX
- Đăng ký danh mục hàng hóa miễn thuế: Hướng dẫn chi tiết về trình tự, thủ tục đăng ký danh mục máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải chuyên dùng nhập khẩu để tạo tài sản cố định của DNCX. Việc đăng ký này giúp cơ quan hải quan kiểm soát chặt chẽ mục đích sử dụng và áp dụng đúng chính sách ưu đãi thuế.
- Sửa đổi, bổ sung danh mục: Quy định rõ thẩm quyền và thủ tục khi DNCX có nhu cầu thay đổi, bổ sung danh mục máy móc thiết bị đã đăng ký trước đó để phù hợp với tiến độ và quy mô dự án đầu tư.
2. Thủ tục thanh lý máy móc, thiết bị và nhượng bán tài sản
- Điều kiện thanh lý tài sản: Xác định cụ thể các trường hợp DNCX được phép thanh lý máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển nhập khẩu tạo tài sản cố định, bao gồm: thay đổi công nghệ sản xuất, hết hạn sử dụng, hoặc doanh nghiệp chuyển đổi hình thức đầu tư, giải thể.
- Chính sách thuế khi thanh lý vào thị trường nội địa: Làm rõ nghĩa vụ kê khai, tính thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với tài sản thanh lý nhượng bán vào thị trường nội địa. Giá trị tính thuế được xác định tại thời điểm chuyển đổi mục đích sử dụng dựa trên giá trị sử dụng còn lại của tài sản.
- Thủ tục tiêu hủy phế liệu, phế thải: Hướng dẫn quy trình tiêu hủy nguyên liệu thừa, phế liệu, phế thải phát sinh trong quá trình sản xuất dưới sự giám sát trực tiếp của cơ quan hải quan và cơ quan quản lý môi trường, đảm bảo không gây ô nhiễm và thất thoát thuế.
3. Quản lý nguyên liệu, vật tư nhập khẩu để sản xuất xuất khẩu
- Xây dựng và thông báo định mức: Hướng dẫn DNCX thực hiện việc xây dựng định mức sử dụng nguyên liệu, định mức hao hụt và thông báo cho cơ quan hải quan trước khi tiến hành sản xuất sản phẩm xuất khẩu.
- Thủ tục mua bán giữa các DNCX (Xuất nhập khẩu tại chỗ): Đơn giản hóa quy trình thủ tục hải quan đối với hoạt động giao thương, mua bán sản phẩm, nguyên liệu giữa các DNCX với nhau hoặc giữa DNCX với doanh nghiệp trong khu phi thuế quan khác.
4. Chế độ báo cáo quyết toán và kiểm tra, giám sát hải quan
- Báo cáo quyết toán định kỳ: Thống nhất biểu mẫu, thời hạn và nội dung báo cáo quyết toán tình hình nhập - xuất - tồn kho nguyên liệu, vật tư, máy móc thiết bị của DNCX với cơ quan hải quan quản lý trực tiếp theo năm tài chính.
- Công tác kiểm tra sau thông quan: Tăng cường hoạt động kiểm tra sổ sách kế toán, chứng từ kho bãi và hệ thống quản lý nội bộ của DNCX nhằm đối chiếu tính xác thực của số liệu báo cáo, kịp thời phát hiện các hành vi đưa hàng hóa từ DNCX tiêu thụ trái phép tại thị trường nội địa.
Ý nghĩa và tác động của văn bản
Công văn số 2415/TCHQ-GSQL đã kịp thời tháo gỡ những điểm nghẽn về mặt thủ tục hành chính cho các doanh nghiệp chế xuất, giúp đồng bộ hóa cách hiểu và áp dụng pháp luật hải quan tại các Chi cục Hải quan địa phương. Văn bản góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, chống thất thu ngân sách.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2415/TCHQ-GSQL | Hà Nội, ngày 05 tháng 05 năm 2009 |
Kính gửi: Cục Hải quan tỉnh Đồng Nai
Trả lời công văn số 915/HQĐNa-NV ngày 15/4/2009 và công văn số 998/HQĐNa-NV ngày 22/4/2009 của Cục Hải quan tỉnh Đồng Nai phản ánh vướng mắc khi thực hiện Thông tư số 116/2008/TT-BTC , Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:
1. Về vướng mắc nêu tại công văn số 915/HQĐNa-NV: Theo hướng dẫn tại Thông tư số 116/2008/TT-BTC ngày 4/12/2008 của Bộ Tài chính, thì đối với nguyên phụ liệu gia công do bên nhận gia công tự cung ứng bằng cách mua tại thị trường VN thì phải xin phép cơ quan có thẩm quyền trước khi ký hợp đồng gia công nếu thuộc danh mục hàng hoá xuất khẩu phải có giấy phép.
Do vậy, nếu nguyên liệu tự cung ứng thuộc danh mục hàng hoá xuất khẩu phải có giấy phép thì đề nghị doanh nghiệp phải xin phép cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền trả lời doanh nghiệp nguyên phụ liệu đó không cần phải xin giấy phép, thì các trường hợp gia công tương tự không yêu cầu doanh nghiệp phải xin giấy phép.
2. Về vướng mắc nêu tại công văn số 998/HQĐNa-NV: Tổng cục Hải quan nhất trí với đề xuất của Cục Hải quan tỉnh Đồng Nai. Quá trình thực hiện Thông tư số 116/2008/TT-BTC , Tổng cục Hải quan sẽ có chấn chỉnh nếu các đơn vị Hải quan địa phương không thực hiện đúng theo quy định.
Tổng cục Hải quan trả lời để Cục Hải quan tỉnh Đồng Nai biết./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |