Giới thiệu chung về Công văn số 2424/TCT-TS
Công văn số 2424/TCT-TS do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng gửi đến các Cục Thuế địa phương nhằm làm rõ các quy định về việc miễn, giảm tiền thuê đất đối với đối tượng là hộ nông trường viên. Văn bản này đóng vai trò tháo gỡ các vướng mắc thực tế trong quá trình thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai, đồng thời hỗ trợ các hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đất nông, lâm nghiệp ổn định sản xuất.
Đối tượng được áp dụng chính sách miễn, giảm tiền thuê đất
Theo nội dung hướng dẫn, chính sách ưu đãi về tiền thuê đất được xem xét áp dụng cho các đối tượng cụ thể sau:
- Hộ gia đình, cá nhân là nông trường viên, lâm trường viên nhận khoán đất của các công ty nông nghiệp, lâm nghiệp (trước đây là các nông, lâm trường quốc doanh) để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản.
- Các hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp tại các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn.
Điều kiện và nguyên tắc xét miễn, giảm tiền thuê đất
Để được hưởng chính sách miễn hoặc giảm tiền thuê đất theo quy định, các hộ nông trường viên và cơ quan quản lý cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Sử dụng đất đúng mục đích: Diện tích đất được giao khoán hoặc thuê phải được sử dụng chính xác vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản theo đúng phương án sản xuất đã được phê duyệt.
- Hợp đồng giao khoán hợp pháp: Phải có hợp đồng giao khoán đất rõ ràng, hợp pháp giữa công ty nông, lâm nghiệp với hộ nông trường viên, trong đó thể hiện rõ diện tích, vị trí và mục đích sử dụng đất.
- Thực hiện đầy đủ thủ tục hành chính: Người nộp thuế phải chủ động lập hồ sơ đề nghị miễn, giảm tiền thuê đất gửi đến cơ quan thuế trực tiếp quản lý để được thẩm định và ra quyết định miễn, giảm theo đúng thẩm quyền.
Hướng dẫn triển khai dành cho cơ quan thuế địa phương
Tổng cục Thuế yêu cầu Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau để đảm bảo chính sách được thực thi đồng bộ:
- Phối hợp chặt chẽ với Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài chính và các công ty nông, lâm nghiệp trên địa bàn để rà soát, phân loại đối tượng và xác định chính xác diện tích đất thực tế giao khoán cho các hộ nông trường viên.
- Tuyên truyền, phổ biến rộng rãi và hướng dẫn chi tiết về hồ sơ, trình tự, thủ tục miễn giảm tiền thuê đất để các hộ nông trường viên nắm rõ và thực hiện quyền lợi của mình kịp thời.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp kê khai không trung thực, sử dụng đất sai mục đích hoặc trục lợi chính sách miễn, giảm của Nhà nước.
Ý nghĩa thực tiễn của văn bản
Công văn số 2424/TCT-TS là cơ sở pháp lý quan trọng giúp thống nhất cách hiểu và áp dụng pháp luật thuế đất đai trên cả nước. Việc thực hiện tốt hướng dẫn này không chỉ giảm bớt gánh nặng tài chính cho người lao động tại các nông, lâm trường mà còn góp phần thúc đẩy quá trình sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nông, lâm nghiệp nhà nước hiện nay.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2424/TCT-TS | Hà Nội, ngày 25 tháng 06 năm 2007 |
Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Sơn La
Trả lời công văn số 288/CT-QLKK&KTT ngày 13/04/2007 của Cục Thuế tỉnh Sơn La về việc lập hồ sơ miễn, giảm tiền thuê đất đối với trường hợp chuyển từ hình thức nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp sang thuê đất, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1/ Về việc miễn/giảm tiền thuê đất đối với hộ nông trường viên nhân khoán:
- Tại Khoản 2 Điều 73 Luật Đất đai năm 2003 quy định:
“Doanh nghiệp nhà nước đã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối trước ngày 01 tháng 01 năm 1999 phải chuyển sang thuê đất hoặc được giao đất có thu tiền sử dụng đất.”.
Như vậy, từ ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành (ngày 01/07/2004), các doanh nghiệp thuộc đối tượng nêu trên phải làm thủ tục để chuyển sang thuê đất hoặc được giao đất có thu tiền sử dụng đất.
Tại Tiết c, Khoản 1, Điều 2 Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước cũng nhắc lại quy định này: “Doanh nghiệp nhà nước đã được nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối trước ngày 01 tháng 01 năm 1999 phải chuyển sang thuê đất theo quy định tại khoản 2 Điều 73 Luật Đất đai 2003.”
Do vậy, việc Cục thuế tỉnh Sơn La tiếp tục miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp (SDĐNN) cho các doanh nghiệp này là không phù hợp.
- Theo Thông tư số 120/2005/TT-BTC ngày 30/12/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 142/2005/NĐ-CP:
+ Tại Điểm 3 Mục II Phần C quy định :
“Miễn tiền thuê đất đến năm 2010 đối với diện tích đất nông nghiệp trong hạn mức theo quy định của pháp luật cho từng vùng đối với hộ nông dân, hộ nông trường viên, xã viên hợp tác xã nông nghiệp nhận giao khoán của doanh nghiệp, hợp tác xã sản xuất nông nghiệp; nay chuyển sang thuê đất theo quy định của Luật Đất đai.”.
+ Tại Điểm 3, Mục III, Phần C quy định:
“Giảm 50% tiền thuê đất hàng năm đến năm thuế 2010 đối với diện tích đất sản xuất nông nghiệp của đối tượng không được diện được miễn tiền thuê đất hướng dẫn tại điểm 3 Mục II Phần này và diện tích đất sản xuất nông nghiệp vượt hạn mức theo quy định của pháp luật đối với hộ nông dân, hộ nông trường viên và hộ sản xuất nông nghiệp khác.”.
Như vậy, hộ nông trường viên nhận giao khoán của doanh nghiệp chỉ được miễn tiền thuê đất “đến năm thuế 2010 đối với diện tích đất nông nghiệp trong hạn mức” và đối với diện tích đất sản xuất nông nghiệp vượt hạn mức (nếu có) chỉ được giảm 50%.
Trường hợp tại Sơn La, theo Cục thuế báo cáo thì các doanh nghiệp đều đã thực hiện giao khoán đất nông nghiệp cho các hộ nông trường viên quản lý thì bắt buộc các hộ này phải làm thủ tục để ký hợp đồng thuê đất với cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với diện tích đã nhận khoán và từ năm 2006 không áp dụng chế độ miễn thuế SDĐNN đối với các hộ này.
Đề nghị Cục thuế tỉnh Sơn La báo cáo UBND tỉnh để chỉ đạo các cơ quan có liên quan thúc đẩy nhanh việc làm thủ tục thuê đất đối với các hộ nhận khoán này; đồng thời Cục thuế cần có biện pháp để thực hiện đúng quy định về miễn, giảm tiền thuê đất tại Nghị định số 142/2005/NĐ-CP và Thông tư số 120/2005/TT-BTC.
2/ Về hồ sơ miễn, giảm tiền thuê đất: Theo chỉ đạo của Bộ Tài chính, hiện Cục Quản lý công sản đang chủ trì soạn thảo để trình Bộ ký ban hành Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư số 120/2005/TT-BTC, trong đó có quy định về trình tự, thủ tục miễn, giảm tiền thuê đất.
Trong khi chờ Bộ Tài chính ban hành Thông tư này, đề nghị Cục thuế tạm thời thực hiện việc miễn/giảm tiền thuê đất đối với trường hợp quy định tại Điểm 3, Mục II và Điểm 3, Mục III, Phần C Thông tư số 120/2005/TT-BTC theo trình tự, thủ tục sau:
Năm đầu tiên nộp tiền thuê đất, người thuê đất nộp tại cơ quan Tài nguyên & Môi trường, hồ sơ gồm:
- Đơn đề nghị miễn/giảm tiền thuê đất, trong đó nêu rõ: diện tích đất thuê (trong đó: diện tích trong hạn mức, vượt hạn mức); thời hạn thuê đất; lý do và thời hạn miễn/giảm tiền thuê đất.
- Quyết định cho thuê đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Hợp đồng thuê đất.
- Hợp đồng hoặc văn bản nhận giao khoán đất giữa doanh nghiệp với hộ nông trường viên.
Cơ quan Tài nguyên & Môi trường thẩm tra, xác nhận “Phiếu chuyển thông tin địa chính để xác định nghĩa vụ tài chính” và chuyển hồ sơ sang cơ quan thuế. Căn cứ hồ sơ này và quyết định của UBND cấp huyện về đơn giá thuê đất, cơ quan thuế ra thông báo nộp tiền thuê đất (đất người thuê đất phải nộp) và quyết định miễn/giảm tiền thuê đất theo thẩm quyền quy định.
Tổng cục Thuế thông báo để Cục Thuế tỉnh Sơn La biết và thực hiện./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |