Tóm tắt Công văn số 2570/TCHQ-GSQL về việc xác nhận thuế suất CEPT và mã số HS trên C/O mẫu D
Công văn số 2570/TCHQ-GSQL được Tổng cục Hải quan ban hành ngày 04/06/2004 nhằm hướng dẫn các Cục Hải quan tỉnh, thành phố giải quyết các vướng mắc liên quan đến việc kiểm tra, xác nhận thuế suất ưu đãi đặc biệt CEPT và sự thống nhất về mã số HS ghi trên Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) mẫu D. Đây là văn bản nghiệp vụ quan trọng giúp chuẩn hóa quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu trong khuôn khổ Hiệp định CEPT/AFTA.
- Mục đích và phạm vi áp dụng của văn bản
- Văn bản hướng dẫn trực tiếp các cơ quan hải quan địa phương trong việc kiểm tra tính hợp lệ của C/O mẫu D khi doanh nghiệp đề nghị áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt CEPT.
- Giải quyết triệt để các vướng mắc phát sinh do sự không thống nhất về mã số phân loại hàng hóa (mã số HS) giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩu (Việt Nam) trên chứng từ chứng nhận xuất xứ.
- Nguyên tắc xử lý khác biệt mã số HS trên C/O mẫu D
- Trong trường hợp có sự khác biệt giữa mã số HS khai báo trên C/O mẫu D (do cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu cấp) và mã số HS do cơ quan Hải quan Việt Nam áp mã khi thông quan, cơ quan Hải quan cần kiểm tra thực tế hàng hóa và hồ sơ kèm theo.
- Nếu sự khác biệt về mã số HS không làm thay đổi bản chất xuất xứ của hàng hóa và hàng hóa nhập khẩu thực tế vẫn đáp ứng đầy đủ các tiêu chí xuất xứ theo quy định của Hiệp định CEPT, cơ quan Hải quan vẫn xem xét chấp nhận C/O mẫu D để cho hưởng thuế suất ưu đãi.
- Tránh việc bác bỏ C/O một cách máy móc chỉ dựa trên sự khác biệt nhỏ về mã số HS ở cấp độ phân nhóm hoặc phân loại chi tiết giữa các quốc gia thành viên ASEAN.
- Hướng dẫn xác nhận thuế suất ưu đãi đặc biệt CEPT
- Việc áp dụng thuế suất CEPT phải căn cứ vào biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam thực hiện Hiệp định CEPT có hiệu lực tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan.
- Cơ quan Hải quan có trách nhiệm đối chiếu thông tin trên C/O mẫu D với các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan (như hóa đơn thương mại, vận đơn, tờ khai hải quan) để đảm bảo tính đồng nhất và hợp pháp của lô hàng.
- Trường hợp có nghi ngờ về tính xác thực của C/O mẫu D hoặc các thông tin về thuế suất CEPT, cơ quan Hải quan địa phương tiến hành các thủ tục xác minh theo quy định, nhưng không tự ý bác bỏ hiệu lực của C/O khi chưa có kết luận rõ ràng.
- Trách nhiệm triển khai và thực hiện của cơ quan Hải quan
- Các Cục Hải quan tỉnh, thành phố có trách nhiệm phổ biến và quán triệt nội dung hướng dẫn tại Công văn này đến từng cán bộ, công chức hải quan làm công tác kiểm tra áp mã và tính thuế.
- Đảm bảo tạo thuận lợi thương mại cho doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa từ các nước ASEAN, đồng thời ngăn chặn các hành vi gian lận xuất xứ để hưởng sai lệch thuế suất ưu đãi.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2570/TCHQ-GSQL | Hà Nội, ngày 04 tháng 6 năm 2004 |
Kính gửi: Cục Hải quan các tỉnh, thành phố
Để thuận tiện cho việc xác định mặt hàng được áp dụng thuế CEPT, tại các cuộc họp của Nhóm đặc trách về quy tắc xuất xứ ASEAN và Uỷ ban điều phối thực hiện CEPT/AFTA, Việt Nam đã đề nghị các nước phải xác nhận vào ô số 12 của Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D (C/O mẫu D) là mặt hàng nằm trong Danh mục thực hiện CEPT của nước xuất khẩu kèm theo mã HS và thuế suất CEPT.
Nay quy định trên không còn phù hợp với xu hướng đơn giản hóa thủ tục hải quan trong ASEAN. Vì vậy, Việt Nam đã chính thức thông báo với ASEAN là Việt Nam không yêu cầu phải có xác nhận mã HS và thuế suất CEPT tại ô 12.
Về mã HS trên C/O, qua xem xét báo cáo từ các Cục Hải quan địa phương thì mã HS do hải quan phân loại và mã HS trên C/O hầu hết là giống nhau về phân nhóm 6 chữ số, chỉ có một số trường hợp có sự khác nhau về nhóm mặt hàng 8 chữ số hoặc một số nước sử dụng danh mục quốc gia cấp độ 9 chữ số hoặc cá biệt có sự khác nhau về chương, nhóm trong Danh mục HS. Do vậy, Tổng cục hướng dẫn như sau:
1. Việc xác định xuất xứ hàng hoá và phân loại hàng hoá trước hết phải căn cứ vào thực tế hàng hoá;
2. Trên Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D (C/O mẫu D) có hay không có xác nhận thuế suất CEPT và mã HS của nước xuất khẩu, và sự khác nhau giữa mã HS trên C/O mẫu D và mã HS do Hải quan phân loại không phải là điều kiện để từ chối áp dụng thuế suất CEPT của Việt Nam.
Tổng cục Hải quan hướng dẫn để Cục Hải quan các tỉnh, thành phố thực hiện.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC HẢI QUAN |
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.