Giới thiệu chung về Công văn số 3058/BTNMT-ĐĐ
Công văn số 3058/BTNMT-ĐĐ do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng nhằm giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình xác định diện tích đất ở đối với các trường hợp thửa đất có vườn, ao. Văn bản này đóng vai trò định hướng cho các cơ quan quản lý đất đai tại địa phương thực hiện thống nhất, đúng quy định của pháp luật đất đai, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
Các nguyên tắc cốt lõi trong xác định diện tích đất ở
Công văn tập trung làm rõ phương pháp xác định diện tích đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng thửa đất có vườn, ao gắn liền với nhà ở được hình thành qua các thời kỳ lịch sử khác nhau. Cụ thể bao gồm các nội dung trọng tâm sau:
- Trường hợp thửa đất được hình thành trước ngày 18/12/1980: Việc xác định diện tích đất ở được căn cứ vào các giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Luật Đất đai. Nếu giấy tờ ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó. Trường hợp giấy tờ chưa ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định bằng toàn bộ diện tích thửa đất nhưng không vượt quá hạn mức công nhận đất ở do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại địa phương.
- Trường hợp thửa đất được hình thành từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 01/7/2004: Người sử dụng đất có giấy tờ về quyền sử dụng đất mà trong giấy tờ đó ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó. Trường hợp giấy tờ không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được xác định theo hạn mức công nhận đất ở do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành phù hợp với từng thời kỳ.
- Xử lý đối với thửa đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất: Việc xác định diện tích đất ở được thực hiện theo quy định về hạn mức giao đất ở, hạn mức công nhận đất ở do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành, dựa trên quy hoạch sử dụng đất và thực tế sử dụng đất ổn định tại địa phương.
Hướng dẫn áp dụng thực tiễn cho các địa phương
Để đảm bảo tính đồng bộ và hạn chế tối đa các tranh chấp, khiếu nại trong lĩnh vực đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường yêu cầu các cơ quan chức năng địa phương lưu ý các nguyên tắc thực thi sau:
- Rà soát kỹ lưỡng nguồn gốc đất: Việc xác định chính xác thời điểm hình thành thửa đất và thời điểm xây dựng nhà ở trên đất là yếu tố quyết định để áp dụng đúng quy định pháp luật tương ứng qua các thời kỳ.
- Áp dụng đúng hạn mức địa phương: Các cơ quan đăng ký đất đai phải đối chiếu chặt chẽ với các quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về hạn mức công nhận đất ở để tính toán diện tích chính xác, tránh thất thoát ngân sách nhà nước cũng như không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân.
- Giải quyết nghĩa vụ tài chính: Phần diện tích đất vườn, ao còn lại sau khi đã xác định diện tích đất ở sẽ được xác định theo hiện trạng sử dụng hoặc được phép chuyển mục đích sử dụng đất nếu phù hợp với quy hoạch, đồng thời người sử dụng đất phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính theo quy định.
Ý nghĩa pháp lý của văn bản hướng dẫn
Công văn số 3058/BTNMT-ĐĐ là cơ sở pháp lý quan trọng giúp chuẩn hóa quy trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Việc làm rõ các tiêu chí xác định diện tích đất ở giúp giảm thiểu sự tùy tiện trong áp dụng pháp luật tại các địa phương, bảo vệ quyền lợi chính đáng về tài sản của người dân, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai trên phạm vi cả nước.
| BỘ TÀI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3058/BTNMT-ĐĐ | Hà Nội, ngày 19 tháng 07 năm 2006 |
Kính gửi: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên
Trả lời Công văn số 1207/STNMT-TTr ngày 10/7/2006 và Công văn số 1249/STNMT-ĐKĐĐ ngày 13/7/2006 của Quý Sở về việc xác định diện tích đất ở của hộ gia đình, cá nhân, Bộ Tài nguyên và Môi trường có ý kiến như sau:
1. Về trường hợp xác định diện tích đất ở của hộ ông Vũ Duy Tuấn và hộ ông Nguyễn Tử Năm.
Theo hồ sơ hiện có do Quý Sở cung cấp, hộ ông Vũ Duy Tuấn và hộ ông Nguyễn Tử Năm đều chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hộ ông Vũ Duy Tuấn không có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai. Hộ ông Nguyễn Tử Năm thực hiện việc mua bán nhà và hoa màu nhưng chưa thực hiện đầy đủ các thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai. Mặc dù diện tích đất do 02 hộ đang sử dụng trong bản đồ địa chính có ghi chữ “T”, nhưng bản đồ địa chính không phải là một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất. Việc thu hồi đất của các hộ được thực hiện tại thời điểm Luật Đất đai năm 1993 đang có hiệu lực, do đó việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện theo quy định của Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 của Chính phủ về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng mà không áp dụng theo Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Việc 02 hộ đề nghị được bồi thường toàn bộ diện tích đất mà Nhà nước đã thu hồi là đất ở và áp dụng theo Nghị định số 197/2004/NĐ-CP là không có căn cứ để giải quyết.
2. Về việc trước đây các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thuộc tỉnh Bắc Thái (nay là tỉnh Thái Nguyên) đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân không tách rõ diện tích đất ở, vườn, ao và đất nông nghiệp khác mà trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đều ghi ký hiệu là “T”.
Ngày 04/12/1978 Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Thái đã ban hành Điều lệ tạm thời kèm theo quyết định số 558/QĐ-UB quy định mỗi hộ gia đình được quyền đăng ký sử dụng đất thổ cư từ 200-300m2. Ban Quản lý ruộng đất tỉnh Bắc Thái đã ban hành văn bản số 09/QHRD ngày 20/02/1989 về việc tách đất trong khuôn viên thổ cư; văn bản số 58/QLRT ngày 8/5/1990 hướng dẫn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nhưng một số cơ quan có thẩm quyền tỉnh Bắc Thái (nay là tỉnh Thái Nguyên) đã không thực hiện quy định của Uỷ ban nhân dân tỉnh cũng như hướng dẫn của Ban Quản lý ruộng đất, không thực hiện việc tách các thửa đất trong khuôn viên thổ cư khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, dẫn đến đất thổ cư bao gồm cả đất đồi chè, diện tích lên đến hàng ngàn m2. Việc cấp giấy chứng nhận đối với đất ở như vậy là không đúng với quy định của pháp luật về đất đai. Sở Tài nguyên và Môi trường báo cáo với Uỷ ban nhân dân tỉnh về thực trạng này và đề xuất phương án giải quyết (thực hiện theo quy định tại Điều 87 của Luật Đất đai và Điều 45 của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai để quy định lại hạn mức công nhận đất ở có vườn, ao)./.
|
Nơi nhận: | TL. BỘ TRƯỞNG |
- 1 Nghị định 22/1998/NĐ-CP về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước nước thu hồi để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
- 2 Luật Đất đai 2003
- 3 Nghị định 181/2004/NĐ-CP thi hành Luật Đất đai
- 4 Nghị định 197/2004/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- 1 Công văn 794/TCQLĐĐ-CĐKTK xác định vị trí, ranh giới giữa đất ở và nông nghiệp trong cùng thửa đất thuộc khu dân cư do Tổng cục Quản lý đất đai ban hành
- 2 Thông tư 26/2013/TT-BTNMT hướng dẫn việc xác định diện tích đất loại trừ không tính vào giá trị doanh nghiệp quy định tại Điều 31 Nghị định 59/2011/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
- 1 Nghị định 22/1998/NĐ-CP về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước nước thu hồi để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
- 2 Luật Đất đai 2003
- 3 Nghị định 181/2004/NĐ-CP thi hành Luật Đất đai
- 4 Nghị định 197/2004/NĐ-CP về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- 5 Công văn 794/TCQLĐĐ-CĐKTK xác định vị trí, ranh giới giữa đất ở và nông nghiệp trong cùng thửa đất thuộc khu dân cư do Tổng cục Quản lý đất đai ban hành
- 6 Thông tư 26/2013/TT-BTNMT hướng dẫn việc xác định diện tích đất loại trừ không tính vào giá trị doanh nghiệp quy định tại Điều 31 Nghị định 59/2011/NĐ-CP về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành