Giới thiệu về Công văn số 313/LĐTBXH-PC
Công văn số 313/LĐTBXH-PC được ban hành ngày 05/02/2004 bởi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội nhằm giải đáp và hướng dẫn các vướng mắc liên quan đến việc thực hiện kỷ luật lao động tại các tổ chức, doanh nghiệp. Đây là văn bản hành chính mang tính chất hướng dẫn nghiệp vụ, giúp các đơn vị sử dụng lao động và cơ quan quản lý địa phương áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất.
Các nội dung cốt lõi về kỷ luật lao động
Dựa trên các quy định pháp luật lao động hiện hành tại thời điểm ban hành, văn bản tập trung làm rõ các nguyên tắc, thẩm quyền và thủ tục xử lý kỷ luật lao động như sau:
- Nguyên tắc xử lý kỷ luật lao động: Việc xử lý kỷ luật phải bảo đảm tính khách quan, công bằng, đúng hành vi vi phạm và tuân thủ nghiêm ngặt các trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Người sử dụng lao động không được tự ý áp dụng các hình thức kỷ luật không được pháp luật cho phép hoặc chưa được quy định cụ thể trong nội quy lao động đã đăng ký của đơn vị.
- Thẩm quyền xử lý kỷ luật: Người có thẩm quyền ra quyết định xử lý kỷ luật lao động là người sử dụng lao động (người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp) hoặc người được ủy quyền hợp pháp bằng văn bản theo quy định của pháp luật và điều lệ hoạt động của doanh nghiệp.
- Trình tự và thủ tục xem xét kỷ luật: Khi tiến hành xử lý kỷ luật lao động, người sử dụng lao động bắt buộc phải tổ chức cuộc họp xử lý kỷ luật với sự tham gia của Ban chấp hành Công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp, người lao động vi phạm (hoặc người đại diện hợp pháp của họ) nhằm bảo đảm quyền tự bào chữa và tính dân chủ, minh bạch trong quan hệ lao động.
- Các hình thức kỷ luật lao động được phép áp dụng: Văn bản nhắc nhở việc áp dụng các hình thức kỷ luật phải nằm trong khuôn khổ pháp luật cho phép, bao gồm khiển trách; kéo dài thời hạn nâng lương không quá 6 tháng hoặc chuyển làm công việc khác có mức lương thấp hơn trong thời hạn tối đa 6 tháng; và hình thức xử lý nặng nhất là sa thải.
Ý nghĩa và phạm vi áp dụng của văn bản
Công văn số 313/LĐTBXH-PC đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng cho các doanh nghiệp thực hiện đúng quy trình kỷ luật, hạn chế tối đa các tranh chấp lao động cá nhân và tập thể phát sinh từ việc xử lý kỷ luật không đúng quy trình hoặc lạm quyền từ phía người sử dụng lao động. Đồng thời, văn bản cũng là cơ sở để các cơ quan thanh tra lao động tiến hành kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật lao động tại các đơn vị.
| BỘ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 313/LĐTBXH-PC | Hà Nội, ngày 05 tháng 2 năm 2004 |
Kính gửi: Sở Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Hồ Chí Minh
Trả lời Công văn số 158/LĐTBXH-NN ngày 14 tháng 1 năm 2004 của Quý Sở về xử lý kỷ luật lao động đối với lao động nữ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:
- Khoá 3, Điều 11 Bộ luật lao động quy định: “Người sử dụng lao động không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động nữ vì lý do kết hôn, có thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động.
Trong thời gian có thai, nghỉ nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi, người lao động nữ được tạm hoãn việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, kéo dài thời hiệu xem xét xử lý kỷ luật lao động, trừ trường hợp doanh nghiệp chấm dứt hoạt động”.
- Tiết d, điểm 2, Khoản 3 Điều 1 của Nghị định 33/2003/NĐ-CP ngày 2 tháng 4 năm 2003 quy định: “không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động đang trong thời gian người lao động nữ có thai; nghỉ thai sản; nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi... Khi hết thời gian quy định tại điểm d khoản 2 Điều này, mà thời hiệu xử lý kỷ luật lao động đã hết thì được kéo dài thời hiệu xem xét xử lý kỷ luật lao động, nhưng tối đa không quá 60 ngày kể từ ngày hết thời gian nêu trên”.
Theo quy định của các văn bản hiện hành thì không được xử lý kỷ luật lao động theo bất kỳ một hình thức nào đối với lao động nữ trong thời gian có thai, hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Khi hết thời gian nêu trên mà thời hiệu xử lý kỷ luật lao động đã hết thì được kéo dài thời hiệu để xem xét xử lý kỷ luật lao động, nhưng tối đa không quá 60 ngày kể từ ngày hết thời gian nêu trên.
Trên đây là ý kiến của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội để Sở Lao động - Thương binh và Xã hội biết và thực hiện.
|
| TL. BỘ TRƯỞNG BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI |