Tổng quan về Công văn số 3605/TCHQ-GSQL
Công văn số 3605/TCHQ-GSQL của Tổng cục Hải quan là văn bản chỉ đạo nghiệp vụ quan trọng nhằm giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình phân loại, áp mã số thuế và thực hiện chính sách quản lý chuyên ngành đối với các mặt hàng nhập khẩu có tính chất giao thoa giữa dược phẩm và mỹ phẩm (thường gọi là dược mỹ phẩm). Việc xác định rõ bản chất hàng hóa giúp đảm bảo thực thi đúng quy định pháp luật về thuế và quản lý dược phẩm, mỹ phẩm của Bộ Y tế.
Các nội dung trọng tâm của Công văn số 3605/TCHQ-GSQL
- Nguyên tắc phân định giữa dược phẩm và mỹ phẩm
- Dược phẩm (Thuốc): Được xác định là những hợp chất hoặc hỗn hợp chất dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh, chẩn đoán bệnh hoặc điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể. Dược phẩm phải tuân thủ quy trình kiểm soát nghiêm ngặt về dược lý, lâm sàng và phải được cấp phép lưu hành dưới dạng thuốc bởi cơ quan quản lý có thẩm quyền.
- Mỹ phẩm: Là những chất hoặc chế phẩm được sử dụng để tiếp xúc với các bộ phận bên ngoài cơ thể con người (da, hệ thống tóc, móng tay, móng chân, môi và cơ quan sinh dục ngoài) hoặc răng và niêm mạc miệng với mục đích duy nhất hoặc chủ yếu là để làm sạch, làm thơm, thay đổi diện mạo, hình thức, điều chỉnh mùi cơ thể, bảo vệ chúng hoặc giữ chúng trong điều kiện tốt. Mỹ phẩm không được phép có công dụng điều trị bệnh hoặc thay đổi chức năng sinh lý của cơ thể.
- Cơ chế phối hợp xác định bản chất hàng hóa
- Tổng cục Hải quan đề xuất cơ chế trao đổi thông tin chặt chẽ với Bộ Y tế (trực tiếp là Cục Quản lý Dược) để thẩm định các mặt hàng có tính chất mập mờ, khó phân loại bằng cảm quan hoặc tài liệu kỹ thuật thông thường.
- Khi phát hiện mặt hàng khai báo là mỹ phẩm nhưng có chứa các hoạt chất dược lý mạnh hoặc có chỉ định điều trị, cơ quan Hải quan sẽ trưng cầu ý kiến chuyên môn từ cơ quan quản lý y tế để thống nhất áp dụng chính sách quản lý phù hợp.
- Yêu cầu đối với hồ sơ nhập khẩu của doanh nghiệp
- Doanh nghiệp nhập khẩu phải cung cấp đầy đủ tài liệu kỹ thuật, phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm (đối với mỹ phẩm) hoặc giấy phép lưu hành thuốc (đối với dược phẩm).
- Nội dung nhãn mác, tài liệu hướng dẫn sử dụng và công dụng công bố của sản phẩm phải đồng nhất, không được sử dụng các thuật ngữ gây nhầm lẫn giữa tính năng chăm sóc thẩm mỹ và tính năng điều trị y tế.
- Hướng dẫn nghiệp vụ cho cơ quan Hải quan địa phương
- Cục Hải quan các tỉnh, thành phố cần tăng cường kiểm tra thực tế hàng hóa, đối chiếu kỹ lưỡng giữa hồ sơ khai báo hải quan và thực tế sản phẩm nhập khẩu.
- Tránh tình trạng doanh nghiệp lợi dụng kẽ hở phân loại để khai báo sai lệch nhằm trốn thuế hoặc né tránh các thủ tục kiểm tra chuyên ngành nghiêm ngặt đối với mặt hàng dược phẩm.
Ý nghĩa pháp lý và thực tiễn của văn bản
Công văn này đóng vai trò là cơ sở hướng dẫn nghiệp vụ kịp thời cho cán bộ hải quan tại các cửa khẩu, giúp chuẩn hóa quy trình thông quan đối với nhóm hàng hóa nhạy cảm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng. Đồng thời, văn bản cũng tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, minh bạch cho các doanh nghiệp nhập khẩu chân chính trong lĩnh vực dược phẩm và mỹ phẩm tại Việt Nam.
| TỔNG CỤC HẢI QUAN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3605TCHQ/GSQL | Hà Nội, ngày 05 tháng 09 năm 2005 |
Kính gửi: Cục Quản lý Dược - Bộ Y Tế.
Trong quá trình xem xét hướng dẫn phân loại áp mã hàng hóa, Tổng cục Hải quan gặp vướng mắc trong việc phân biệt và xác định mặt hàng thuốc tân dược “trị ngứa, chống nấm” với mặt hàng dược phẩm “có tính chất mỹ phẩm”. Cụ thể: Công ty CP Dược phẩm TBYT Hà Nội (HAPHARCO) có nhập khẩu mặt hàng “Haicneal” gồm có: Ketoconazol 0.015g, Clobetasol Propionate: 0,00025g, nhưng ngoài 2 hoạt chất chính đề cập ở trên, trong sản phẩm còn gồm có một số phụ gia: Sodium lauryl sulfate: 0,21g; Menthol: 0,002g; Citric Acid: 0,0015g; Distilled water: 0,62g; German plus: 0,002g; Flavor: 0,003g; Pigment: 0,003g; Cocofatty acid diethannolamine: 0,143g. Quy cách đóng gói của sản phẩm dưới dạng: dạng tuýp 50ml, dạng gói nhỏ 5ml.
Hiện nay tại Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi hiện hành, mức thuế suất thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng trên khác nhau, cụ thể: dược phẩm có tính chất mỹ phẩm: 20%, còn đối với mặt hàng thuốc tân dược chỉ có công dụng duy nhất chữa bệnh ngứa da đầu và chống nấm thì ở mức thuế là 5%. Vì vậy, để đảm bảo thực hiện đúng chính sách quản lý hàng hóa xuất nhập khẩu, Tổng cục Hải quan đề nghị Cục Quản lý Dược cho ý kiến cụ thể và tiêu chuẩn để xác định mặt hàng nào thuộc loại “ dược phẩm có tính chất mỹ phẩm”? Đối với mặt hàng “Haicneal” đề cập trên, khi trong sản phẩm có thêm phụ gia như dầu gọi đầu thông thường thì có thuộc loại “dược phẩm có tính chất mỹ phẩm” hay không?
Rất mong nhận được ý kiến của Quý Cục trước ngày 10/9/2005. Xin trân trọng cảm ơn.
|
Nơi nhận:
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.