Giới thiệu về Công văn số 38/NCPL
Công văn số 38/NCPL do Tòa án nhân dân tối cao ban hành là một văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng trong hoạt động tố tụng. Văn bản này tập trung giải quyết và hướng dẫn thống nhất việc ghi họ và tên của Hội thẩm nhân dân trong quyết định đưa vụ án ra xét xử. Đây là mắt xích quan trọng nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch và đúng pháp luật trong quá trình chuẩn bị xét xử các vụ án.
Các nội dung hướng dẫn cốt lõi của Công văn số 38/NCPL
Nội dung của Công văn số 38/NCPL tập trung vào các quy định nghiệp vụ cụ thể sau đây nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự:
- Bắt buộc ghi rõ họ và tên của Hội thẩm nhân dân: Khi ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải ghi đầy đủ, rõ ràng họ và tên của các Hội thẩm nhân dân được phân công tham gia Hội đồng xét xử. Quy định này áp dụng đồng thời cho cả Hội thẩm nhân dân chính thức và Hội thẩm nhân dân dự khuyết (nếu có) để bảo đảm tính chủ động trong công tác xét xử.
- Bảo đảm quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng: Việc ghi rõ danh tính của Hội thẩm nhân dân là cơ sở pháp lý để các đương sự, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác thực hiện quyền yêu cầu thay đổi thành viên Hội đồng xét xử theo quy định của pháp luật tố tụng (nếu có căn cứ cho rằng thành viên đó không vô tư, khách quan khi giải quyết vụ án).
- Trách nhiệm của Thẩm phán chủ tọa: Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có trách nhiệm rà soát, đối chiếu danh sách Hội thẩm nhân dân và thể hiện chính xác thông tin này trong quyết định đưa vụ án ra xét xử trước khi ký ban hành và tống đạt cho các cơ quan, cá nhân liên quan.
- Hạn chế vi phạm thủ tục tố tụng: Hướng dẫn này giúp các Tòa án địa phương tránh được các sai sót nghiệp vụ phổ biến như ghi thiếu tên, ghi sai tên hoặc không ghi tên Hội thẩm nhân dân, dẫn đến nguy cơ bản án bị kháng cáo, kháng nghị hoặc bị hủy do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Ý nghĩa thực tiễn của văn bản trong hoạt động xét xử
Công văn số 38/NCPL tuy là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ ngắn gọn nhưng mang ý nghĩa thực tiễn rất lớn. Việc chuẩn hóa cách ghi thông tin Hội thẩm nhân dân trong quyết định đưa vụ án ra xét xử giúp thống nhất quy trình soạn thảo văn bản tố tụng trên phạm vi cả nước. Đồng thời, quy định này góp phần nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, bảo đảm nguyên tắc độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật của Hội thẩm nhân dân.
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 38/NCPL | Hà Nội, ngày 04 tháng 03 năm 1989 |
VỀ VIỆC GHI HỌ VÀ TÊN HỘI THẨM NHÂN DÂN TRONG QUYẾT ĐỊNH ĐƯA VỤ ÁN RA XÉT XỬ
Một số Tòa án có hỏi Tòa án nhân dân tối cao về việc phải ghi họ và tên hội thẩm nhân dân trong quyết định đưa vụ án ra xét xử. Về vấn đề này Tòa án nhân dân tối cao có ý kiến như sau: Theo Điều 151 Bộ luật tố tụng hình sự thì sau khi đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử, phải mở phiên tòa trong thời hạn 15 ngày. Theo điều 153 Bộ luật tố tụng hình sự thì trong quyết định đưa vụ án ra xét xử phải ghi rõ họ và tên hội thẩm nhân dân. Qua các quy định này chúng ta có thể thấy là Bộ luật tố tụng hình sự muốn nhấn mạnh việc dành thời gian cần thiết cho hội thẩm nhân dân nghiên cứu hồ sơ vụ án để chuẩn bị cho việc tham gia xét xử tại phiên tòa một cách thiết thực.
Theo Điều 157 Bộ luật tố tụng hình sự thì quyết định đưa vụ án ra xét xử được giao cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ và người bào chữa chậm nhất là 10 ngày trước khi mở phiên tòa. Theo tinh thần của quy định này thì khi biết rõ ai sẽ là hội thẩm nhân dân tại phiên tòa bị cáo có thể sử dụng quyền được đề nghị thay đổi hội thẩm nhân dân (Điều 28 và điều 34 BLTTHS), và nếu đề nghị đó được chấp nhận thì Tòa án kịp thời thay thế bằng hội thẩm nhân dân khác trước ngày xét xử đã định trong quyết định đưa vụ án ra xét xử để khỏi phải hoãn phiên tòa.
Nếu phải thay đổi hội thẩm nhân dân trước khi mở phiên tòa vì đề nghị thay đổi hội thẩm nhân dân được chấp nhận hoặc vì lý do nào đó mà hội thẩm nhân dân không tham gia được phiên tòa vào ngày đã định, thì Tòa án mời hội thẩm nhân dân khác tham gia phiên tòa và thông báo ngay về sự thay đổi đó cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ và người bào chữa. Tuy nhiên, nếu vì lý do nào đó mà chỉ khi mở phiên tòa rồi bị cáo mới được biết họ và tên hội thẩm nhân dân mới do có sự thay đổi hội thẩm nhân dân, thì việc này cũng không phải là lý do buộc Tòa án phải hoãn xét xử, phiên tòa vẫn được tiến hành bình thường và bị cáo vẫn có quyền đề nghị thay đổi hội thẩm nhân dân mới đó giống như trường hợp tại phiên tòa bị cáo mới đề nghị thay đổi hội thẩm nhân dân.
Nếu có hội thẩm nhân dân dự bị thì họ và tên hội thẩm nhân dân dự bị cũng cần ghi rõ trong quyết định đưa vụ án ra xét xử.
|
|
|