Giới thiệu về Công văn số 3962/TCT-HT
Công văn số 3962/TCT-HT do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng nhằm giải quyết các vướng mắc của doanh nghiệp liên quan đến việc khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) và tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với trường hợp hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ bị mất, cháy, hỏng. Văn bản này giúp thống nhất quy trình xử lý giữa cơ quan thuế và người nộp thuế, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp khi gặp sự cố về hóa đơn.
Quy định về việc khấu trừ thuế GTGT đối với hóa đơn bị mất
Theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế, trường hợp doanh nghiệp mua hàng hóa, dịch vụ nhưng làm mất, cháy, hỏng hóa đơn bản gốc (Liên 2) thì việc khấu trừ thuế GTGT đầu vào được thực hiện theo các nguyên tắc và điều kiện chặt chẽ sau:
- Yêu cầu về hồ sơ chứng minh: Doanh nghiệp phải có đầy đủ hồ sơ chứng minh việc mua bán hàng hóa, dịch vụ là có thật và thực tế đã phát sinh. Hồ sơ bao gồm hợp đồng kinh tế, biên bản giao nhận hàng hóa, dịch vụ, và chứng từ thanh toán theo quy định.
- Biên bản xác nhận mất hóa đơn: Người bán và người mua phải lập biên bản ghi nhận sự việc mất, cháy, hỏng hóa đơn. Trong biên bản phải ghi rõ Liên 1 của hóa đơn người bán đã khai, nộp thuế vào tháng nào, năm nào, ký và ghi rõ họ tên của người đại diện theo pháp luật (hoặc người được ủy quyền), đóng dấu (nếu có) của hai bên.
- Sử dụng bản sao hóa đơn hợp lệ: Người mua được sử dụng bản sao hóa đơn (Liên 1) có xác nhận ký tên, đóng dấu của người bán kèm theo biên bản mất hóa đơn để làm chứng từ kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
- Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt: Đối với các hóa đơn có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (đã bao gồm thuế GTGT), doanh nghiệp bắt buộc phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt để đủ điều kiện khấu trừ.
Điều kiện tính vào chi phí được trừ khi xác định thuế TNDN
Bên cạnh việc khấu trừ thuế GTGT, Công văn cũng làm rõ điều kiện để doanh nghiệp được tính giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào từ hóa đơn bị mất vào chi phí hợp lý khi tính thuế TNDN:
- Khoản chi thực tế phát sinh phải liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp phải có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật (sử dụng bản sao Liên 1 có xác nhận của người bán kèm biên bản mất hóa đơn và chứng từ thanh toán).
- Đảm bảo tuân thủ các quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với các giao dịch có giá trị lớn từ 20 triệu đồng trở lên.
Trách nhiệm báo cáo và xử phạt vi phạm hành chính
Việc làm mất hóa đơn là hành vi vi phạm quy định về quản lý hóa đơn và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật về thuế và hóa đơn:
- Trách nhiệm báo cáo: Khi phát hiện mất, cháy, hỏng hóa đơn (kể cả hóa đơn đã lập hoặc chưa lập), tổ chức, cá nhân phải lập báo cáo về việc mất, cháy, hỏng hóa đơn và thông báo với cơ quan thuế quản lý trực tiếp theo thời hạn quy định của pháp luật để tránh bị phạt chậm nộp báo cáo.
- Xử phạt vi phạm: Tùy thuộc vào nguyên nhân mất hóa đơn (do người bán hay người mua làm mất, mất trước hay sau khi kê khai thuế) và việc có tìm lại được hóa đơn hay không, cơ quan thuế sẽ áp dụng các mức xử phạt vi phạm hành chính về hóa đơn theo quy định pháp luật hiện hành.
Khuyến nghị dành cho doanh nghiệp
Để tránh các rủi ro pháp lý và bị từ chối khấu trừ thuế GTGT cũng như chi phí được trừ, doanh nghiệp cần lưu ý:
- Thực hiện lưu trữ hóa đơn, chứng từ một cách khoa học, an toàn. Khuyến khích chuyển đổi hoàn toàn sang sử dụng hóa đơn điện tử để hạn chế tối đa rủi ro mất, cháy, hỏng vật lý.
- Khi xảy ra sự cố mất hóa đơn giấy, cần nhanh chóng phối hợp với đối tác để lập biên bản và thực hiện thủ tục thông báo với cơ quan thuế đúng thời hạn nhằm giảm thiểu mức xử phạt hành chính và bảo toàn quyền lợi khấu trừ thuế.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3962/TCT-HT | Hà Nội, ngày 26 tháng 09 năm 2007 |
| Kính gửi: | Công ty TNHH du lịch Tân Mê Kông |
Trả lời công văn số 01/6-CVT ngày 6/8/2007 của Công ty TNHH du lịch Tân Mê Kông về việc Cục Thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không chấp nhận trừ thuế GTGT cho hóa đơn bưu điện bị mất. Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
- Tại Điểm 1.b, Mục III, Phần B, Thông tư số 89/1998/TT-BTC ngày 27/6/1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 28/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng quy định:
“Thuế GTGT đầu vào bằng (=) tổng số thuế GTGT ghi trên hóa đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế GTGT của hàng hóa nhập khẩu.
Thuế GTGT đầu vào cơ sở kinh doanh được tính khấu trừ quy định như sau:
Thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ dùng vào sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT thì được khấu trừ.
Thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ được khấu trừ phát sinh trong tháng nào được kê khai khấu trừ xác định số thuế phải nộp của tháng đó, không phân biệt đã xuất dùng hay còn để trong kho”.
Căn cứ quy định trên, Công ty TNHH du lịch Tân Mê Kông không có hóa đơn mua hàng (hóa đơn cước phí điện thoại) do đó không có cơ sở để xác định số thuế GTGT đầu vào. Vì vậy việc Cục thuế Bà Rịa – Vũng Tàu xuất toán toàn bộ số tiền thuế của 14 hóa đơn GTGT năm 1999 và 8 hóa đơn GTGT năm 2000 của Công ty là đúng theo quy định.
- Tại Khoản 1, Điều 23,Chương V, Luật thuế giá trị gia tăng số 02/1997/QH9 quy định: “Đối tượng nộp thuế có quyền khiếu nại việc cán bộ thuế, cơ quan thuế thi hành không đúng luật thuế giá trị gia tăng.
Đơn khiếu nại được gửi đến cơ quan trực tiếp quản lý thu thuế trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo hoặc quyết định xử lý của cán bộ thuế, cơ quan thuế”.
- Tại Điều 31, Mục III,Chương II, Luật Khiếu nại tố cáo số 09/1998/QH10 ngày 2/12/1998 quy định: “Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được có hành vi hành chính.
Trong trường hợp vì ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu, thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại”.
Căn cứ các quy định trên, trong thời hạn quy định nếu Công ty TNHH du lịch Tân Mê Kông không đồng ý với quyết định xuất toán số tiền thuế GTGT của Cục thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, thì có quyền khiếu nại lên cơ quan thuế theo quy định của pháp luật hiện hành để được giải quyết.
Tổng cục Thuế trả lời để Công ty TNHH du lịch Tân Mê Kông được biết và thực hiện./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1 Luật Thuế giá trị gia tăng 1997
- 2 Thông tư 89/1998/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 28/1998/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) do Bộ Tài Chính ban hành
- 3 Luật Khiếu nại, tố cáo 1998
- 4 Công văn 1457/TCT-CS về khấu trừ thuế khi tìm lại được hóa đơn bị mất do Tổng cục Thuế ban hành