Tóm tắt Công văn số 3969/TCT-TS của Tổng cục Thuế
Công văn số 3969/TCT-TS do Tổng cục Thuế ban hành nhằm hướng dẫn và giải quyết các vướng mắc liên quan đến việc thu tiền sử dụng đất đối với các hồ sơ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận trước ngày 01/01/2005. Đây là văn bản chỉ đạo nghiệp vụ quan trọng giúp các cơ quan thuế địa phương thống nhất phương án xử lý nghĩa vụ tài chính trong giai đoạn chuyển tiếp chính sách đất đai.
- Phạm vi áp dụng và đối tượng điều chỉnh
- Áp dụng đối với các hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân đã được nộp và tiếp nhận hợp lệ tại cơ quan chức năng trước ngày 01/01/2005.
- Giải quyết các trường hợp hồ sơ bị tồn đọng, chậm xử lý do nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan từ phía cơ quan hành chính nhà nước, dẫn đến việc nghĩa vụ tài chính chưa được xác định trước thời điểm thay đổi biểu giá đất mới.
- Nguyên tắc xác định nghĩa vụ tài chính và giá đất áp dụng
- Việc tính tiền sử dụng đất đối với các hồ sơ nhận trước ngày 01/01/2005 phải căn cứ vào thời điểm người sử dụng đất nộp đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định của pháp luật tại thời điểm đó.
- Trường hợp chậm trễ do lỗi của cơ quan nhà nước trong khâu tiếp nhận, luân chuyển hoặc xử lý hồ sơ, người sử dụng đất không phải chịu trách nhiệm đối với phần chênh lệch nghĩa vụ tài chính phát sinh do thay đổi bảng giá đất sau ngày 01/01/2005. Giá đất tính tiền sử dụng đất trong trường hợp này được xác định theo bảng giá đất có hiệu lực tại thời điểm nộp hồ sơ hợp lệ.
- Đối với các hồ sơ chưa hoàn thiện hoặc cần bổ sung thông tin, cơ quan thuế phối hợp với cơ quan tài nguyên và môi trường để xác định rõ mốc thời gian hoàn thành thủ tục, làm cơ sở áp dụng đúng quy định pháp luật tương ứng.
- Trách nhiệm phối hợp của cơ quan Thuế và các cơ quan liên quan
- Cơ quan Thuế địa phương có trách nhiệm chủ động phối hợp với Văn phòng đăng ký đất đai và cơ quan Tài nguyên và Môi trường để đối chiếu, xác định chính xác ngày tiếp nhận hồ sơ ghi trên phiếu hẹn hoặc sổ theo văn bản đến.
- Thực hiện rà soát kỹ lưỡng nguồn gốc đất, diện tích đất trong hạn mức và vượt hạn mức để áp dụng đúng các chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất (nếu có) theo quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm tiếp nhận hồ sơ.
- Ban hành thông báo nộp tiền sử dụng đất kịp thời, chính xác và hướng dẫn người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ tài chính vào ngân sách nhà nước theo đúng quy trình.
| TỔNG CỤC THUẾ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3969/TCT-TS | Hà Nội, ngày 03 tháng 11 năm 2005 |
Kính gửi : Cục thuế tỉnh Bình Dương
Trả lời công văn số 5994/ CT-THDT ngày 27/9/2005 của Cục Thuế tỉnh Bình Dương về việc tính thu tiền sử dụng đất đối với hồ sơ nhà đất mà các cơ quan (UBND quận, huyện; Sở Tài nguyên và Môi trường; Sở Xây dựng; Sở Tư pháp; Toà án tỉnh, huyện) tại tỉnh Bình Dương đã tiếp nhận trước ngày 01/01/2005, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Tại Điểm 2 công văn số 723 TC/TCT ngày 19/1/2005 của Bộ Tài chính về giải quyết các hồ sơ về nhà, đất tiếp nhận trước 1/1/2005: “Đối với trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã tiếp nhận hồ sơ đủ điều kiện kê khai, nộp các khoản thu liên quan đến nhà, đất trước ngày 01/1/2005 mà chưa thông báo nộp tiền thì thực hiện theo nguyên tắc: cơ quan nhà nước tiếp nhận hồ sơ của người sử dụng đất tại thời điểm nào thì phải áp dụng chính sách thu và giá tính các khoản phải nộp theo quy định của pháp luật tương ứng tại thời điểm đó (thời điểm có hiệu lực thi hành của pháp luật đó)”.
Theo quy định của pháp luật có liên quan hiện hành thì tổ chức, cá nhân chỉ phải thực hiện kê khai, nộp các khoản thu: tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ nhà đất sau khi đã hoàn thành thủ tục giao đất hoặc thuê đất, chuyển quyền sử dụng đất, nhận quyền sử dụng đất.
Do đó, hồ sơ đủ điều kiện kê khai, nộp các khoản thu liên quan đến nhà, đất được áp dụng chính sách thu và giá nhà, đất do Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định áp dụng tại thời điểm nộp hồ sơ (trước ngày 01/01/2005) phải là những hồ sơ bảo đảm các điều kiện sau đây:
1. Hồ sơ đó phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (UBND tỉnh, huyện; Sở Tài nguyên và Môi trường hoặc đơn vị trực thuộc Sở được giao việc tiếp nhận hồ sơ nhà đất; Sở Xây dựng hoặc đơn vị trực thuộc Sở được giao việc tiếp nhận hồ sơ nhà đất) tiếp nhận trước ngày 01/01/2005 để thực hiện cấp GCNQSHN,QSDĐ.
2. Tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp GCNQSHN,QSDĐ thì tổ chức, cá nhân đó đã hoàn thành thủ tục giao đất hoặc thuê đất, hoặc chuyển quyền sử dụng đất, nhận quyền sử dụng đất, nên trong hồ sơ tối thiểu phải có các giấy tờ sau:
- Quyết định giao đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (đối với trường hợp được nhà nước giao đất); Quyết định cho thuê đất hoặc hợp đồng thuê đất (đối với trường hợp thuê đất của nhà nước); hoặc Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) có xác nhận của Công chứng nhà nước hoặc xác nhận của Uỷ ban nhân dân các cấp (đối với trường hợp nhận chuyển nhượng); hoặc Giấy tờ về thừa kế, tặng, cho QSDĐ có xác nhận của Công chứng nhà nước hoặc xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (đối với trường hợp được thừa kế, tặng, cho); hoặc quyết định của toà án về giải quyết thừa kế, tranh chấp tài sản...
- Giấy tờ chứng minh nhà, đất có nguồn gốc hợp pháp (trừ trường hợp có quyết định giao đất hoặc thuê đất của nhà nước thì không cần loại giấy này).
Trường hợp hồ sơ nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước ngày 01/01/2005 để xin giao đất hoặc thuê đất, xin chuyển mục đích sử dụng đất, hoặc xác nhận việc chuyển nhượng QSHN, QSDĐ, hoặc để đề nghị Toà án xét xử phân chia tài sản... (không phải để đề nghị cấp GCNQSHN, QSDĐ) thì không phải là hồ sơ đủ điều kiện kê khai, nộp các khoản thu liên quan đến nhà đất, nên không được áp dụng chính sách thu và giá nhà, đất quy định tại thời điểm nộp hồ sơ (trước ngày 01/01/2005).
Đề nghị Cục Thuế tỉnh Bình Dương kiểm tra kỹ từng hồ sơ, các loại giấy tờ có trong hồ sơ, dấu công văn đến hoặc sổ nhận công văn ghi rõ: ngày, tháng, năm của cơ quan nhận hồ sơ trước ngày 01/01/2005 để tính thu các khoản nghĩa vụ tài chính liên quan đến nhà đất theo nguyên tắc nêu trên./.
|
| TỔNG CỤC THUẾ |