Tóm tắt Công văn số 4244 TC/TCT về việc chưa thực hiện cưỡng chế đối với một số hàng hoá nhập khẩu
Công văn số 4244 TC/TCT do Bộ Tài chính ban hành là một văn bản chỉ đạo nghiệp vụ quan trọng trong lĩnh vực quản lý thuế và hải quan. Văn bản này hướng dẫn về việc tạm hoãn, chưa áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính thuế đối với một số nhóm hàng hóa nhập khẩu cụ thể nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình thông quan và sản xuất kinh doanh.
Thông tin chung về văn bản
- Tên văn bản: Công văn số 4244 TC/TCT về việc chưa thực hiện cưỡng chế đối với một số hàng hoá nhập khẩu.
- Số hiệu: 4244 TC/TCT.
- Cơ quan ban hành: Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế).
- Nội dung trọng tâm: Tạm dừng thực hiện các biện pháp cưỡng chế thuế đối với các lô hàng nhập khẩu thuộc diện quy định nhằm hỗ trợ doanh nghiệp duy trì hoạt động.
Nội dung cốt lõi và phân tích chính sách chưa thực hiện cưỡng chế
Chính sách chưa thực hiện cưỡng chế thuế đối với một số mặt hàng nhập khẩu theo tinh thần của Công văn số 4244 TC/TCT tập trung vào các nội dung phối hợp và xử lý thực tiễn sau:
- Đối tượng được tạm hoãn cưỡng chế: Áp dụng đối với các doanh nghiệp nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu, nguyên liệu đầu vào phục vụ trực tiếp cho sản xuất trong nước, hoặc các trường hợp hàng hóa đang gặp vướng mắc khách quan về thủ tục áp mã thuế, xác định trị giá tính thuế chưa thống nhất giữa cơ quan hải quan và doanh nghiệp.
- Biện pháp xử lý tạm thời: Cơ quan Hải quan và cơ quan Thuế các địa phương được yêu cầu tạm thời chưa áp dụng các biện pháp cưỡng chế trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản hoặc dừng làm thủ tục hải quan đối với các lô hàng mới phát sinh của doanh nghiệp đang trong quá trình giải quyết nợ thuế thuộc diện được xem xét.
- Mục tiêu hỗ trợ doanh nghiệp: Việc chưa thực hiện cưỡng chế giúp doanh nghiệp tránh được nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng nguyên vật liệu, có thêm thời gian để cân đối dòng tiền, phối hợp với cơ quan quản lý để đối chiếu, xác minh và hoàn thành nghĩa vụ thuế một cách chính xác nhất.
- Yêu cầu đối với người nộp thuế: Doanh nghiệp thuộc diện chưa bị cưỡng chế phải có văn bản cam kết rõ ràng về lộ trình khắc phục nợ thuế, không được lợi dụng chính sách để trì hoãn nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước.
Ý nghĩa và tác động thực tiễn của văn bản
Việc ban hành Công văn số 4244 TC/TCT mang lại nhiều tác động tích cực đối với hoạt động xuất nhập khẩu và quản lý thuế:
- Tháo gỡ rào cản hành chính: Giảm thiểu các quyết định cưỡng chế hành chính cứng nhắc khi chưa làm rõ nguyên nhân khách quan, tạo môi trường thông thoáng cho hoạt động thương mại quốc tế.
- Bảo vệ nguồn cung sản xuất: Giúp các doanh nghiệp sản xuất trong nước duy trì được nguồn nguyên liệu nhập khẩu ổn định, bảo đảm việc làm cho người lao động và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
- Nâng cao hiệu quả quản lý: Tạo cơ chế đối thoại, phối hợp hiệu quả giữa cơ quan hải quan, cơ quan thuế và doanh nghiệp để giải quyết dứt điểm các vướng mắc về thuế nhập khẩu trên tinh thần thượng tôn pháp luật và đồng hành cùng phát triển.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4244 TC/TCT | Hà Nội, ngày 26 tháng 8 năm 1999 |
| Kính gửi: | -Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ |
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 3209/VPCP-KTTH ngày 19/7/1999 của Văn phòng Chính phủ về việc chưa thực hiện cưỡng chế đối với một số hàng hoá nhập khẩu;
Căn cứ Thông tư Liên tịch số 06/1999/TTLT-BTC-TCHQ ngày 15/01/1999 của Bộ Tài chính - Tổng cục Hải quan về việc hướng dẫn xử lý nợ đọng, truy thu và phạt chậm nộp thuế xuất khẩu,thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt của hàng nhập khẩuu;
Sau khi tham khảo ý kiến của Tổng cục Hải quan tại công văn số 4341/TCHQ-KTTT ngày 10/8/1999.
Để khuyến khích xuất khẩu và đầu tư, kịp thời phục vụ yêu cầu sản xuất, y tế, an ninh, quốc phòng, tháo gỡ những khó khăn cho các doanh nghiệp có nợ thuế quá thời hạn quy định của Luật thuế xuất nhập khẩu;
Bộ Tài chính hướng dẫn như sau:
1/. Cục Hải quan địa phương vẫn tiến hành làm thủ tục Hải quan đối với các doanh nghiệp thuộc diện bị cưỡng chế trong trường hợp xuất, nhập khẩu các hàng hoá đặc biệt sau:
- Doanh nghiệp xuất khẩu hàng ra nước ngoài;
- Doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu, vật tư để sản xuất hàng xuất khẩu cho nước ngoài theo hợp đồng đã ký;
- Doanh nghiệp nhập khẩu hàng hoá để gia công cho nước ngoài theo Hợp đồng xuất khẩu đã ký (trừ trường hợp vi phạm quy định về quyết toán hàng gia công của cơ quan Hải quan);
- Doanh nghiệp kinh doanh hàng tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu.
- Doanh nghiệp nhập khẩu hàng chuyên dùng phục vụ anh ninh, quốc phòng, theo Danh mục hàng nhập khẩu chuyên dùng cho an ninh, quốc phòng, do Lãnh đạo Bộ chủ quản phê duyệt đã đăng ký và thống nhất với Bộ Tài chính từ đầu năm;
- Doanh nghiệp nhập khẩu máy móc, thiết bị, vật tư của dự án ODA theo Hợp đồng nhập khẩu hoặc Hợp đồng trúng thầu, Hợp đồng thực hiện dự án, đã được cơ quan chủ quản phê duyệt;
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng, vật tư trong nước chưa sản xuất được, để tạo tài sản cố định của Doanh nghiệp;
- Doanh nghiệp nhập khẩu máy móc, thiết bị vật tư, cho các dự án thuộc nhóm A theo quy định tại Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng;
- Doanh nghiệp nhập khẩu hàng phục vụ sản xuất theo thời vụ như: phân bón,thuốc bảo vệ thực vật, thuốc điều chỉnh sinh trưởng của cây trồng;
- Doanh nghiệp nhập khẩu hàng cần có sự bảo quản đặc biệt: các mặt hàng tươi sống cần có chế độ bảo ôn (như thực phẩm tươi sống, hoa, quả tươi...), cây giống, con giống, huyết thanh, vắc xin, 1 số loại thuốc đặc trị, vũ khí và đạn dược, chất gây nổ, chất gây nổ, chất gây cháy, chất phóng xạ;
2/. Đối với các hàng hoá xuất nhập khẩu không thuộc đối tượng được miễn thuế, xét miễn thuế theo Luật định, doanh nghiệp phải nộp đủ thuế và các loại thu khác theo quy định ở khâu nhập khẩu (nếu có) cho lô hàng trước khi nhận hàng.
3/. Đề nghị Tổng cục Hải quan chỉ đạo các Cục Hải quan địa phương thực hiện thống nhất, theo đúng quy định này ./.
|
| KT. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH |