Tóm tắt Công văn số 4271/TCT-TS của Tổng cục Thuế về việc thu lệ phí trước bạ đối với tài sản là nhà ở
Công văn số 4271/TCT-TS do Tổng cục Thuế ban hành nhằm hướng dẫn nghiệp vụ cho các Cục Thuế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc thống nhất áp dụng các quy định pháp luật trong quá trình thu lệ phí trước bạ đối với tài sản là nhà ở. Đây là văn bản hướng dẫn quan trọng giúp tháo gỡ các vướng mắc thực tế của cơ quan thuế địa phương và người nộp thuế khi thực hiện nghĩa vụ tài chính liên quan đến quyền sở hữu nhà ở.
- Quy định về căn cứ và phương pháp tính lệ phí trước bạ đối với nhà ở
- Giá trị tài sản tính lệ phí trước bạ đối với nhà ở được xác định dựa trên diện tích nhà chịu lệ phí trước bạ thực tế và giá một mét vuông nhà do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành tại thời điểm kê khai lệ phí trước bạ.
- Công thức xác định trị giá nhà tính lệ phí trước bạ được áp dụng thống nhất: Giá trị nhà tính lệ phí trước bạ bằng diện tích nhà chịu lệ phí trước bạ (tính bằng mét vuông sàn xây dựng) nhân với giá một mét vuông nhà xây dựng mới do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định, nhân tiếp với tỷ lệ chất lượng còn lại của nhà chịu lệ phí trước bạ (đối với nhà đã qua sử dụng).
- Đối với trường hợp giá nhà tại hợp đồng mua bán, chuyển nhượng cao hơn mức giá do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định thì giá tính lệ phí trước bạ được xác định theo giá trị thực tế ghi trên hợp đồng mua bán, chuyển nhượng hợp pháp.
- Xác định diện tích nhà chịu lệ phí trước bạ
- Diện tích nhà chịu lệ phí trước bạ là toàn bộ diện tích sàn xây dựng (kể cả diện tích công trình phụ kèm theo) thuộc quyền sở hữu hợp pháp của tổ chức, cá nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu.
- Trong trường hợp có sự chênh lệch giữa diện tích ghi trên giấy tờ chứng minh quyền sở hữu và diện tích thực tế sử dụng, cơ quan thuế sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng về tài nguyên môi trường, xây dựng để xác định chính xác diện tích chịu thuế theo đúng quy định của pháp luật hành chính và đất đai.
- Hướng dẫn xử lý đối với các trường hợp đặc biệt
- Đối với nhà ở thuộc sở hữu chung của nhiều hộ gia đình hoặc nhiều cá nhân, việc phân bổ và xác định nghĩa vụ nộp lệ phí trước bạ phải được thực hiện tương ứng với tỷ lệ quyền sở hữu của từng đối tượng được ghi nhận trong văn bản giao dịch hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Trường hợp nhà ở được tạo lập thông qua hình thức tự xây dựng, cải tạo hoặc sửa chữa, người nộp thuế phải xuất trình các hóa đơn, chứng từ hợp pháp liên quan đến chi phí xây dựng hoặc biên bản nghiệm thu công trình để làm cơ sở cho cơ quan thuế xem xét, áp dụng mức giá tính lệ phí trước bạ phù hợp với thực tế phát sinh.
- Đối với các trường hợp được miễn, giảm lệ phí trước bạ theo quy định của Luật Phí và lệ phí, cơ quan thuế có trách nhiệm hướng dẫn người nộp thuế hoàn thiện hồ sơ, thủ tục chứng minh đối tượng được hưởng ưu đãi theo đúng trình tự pháp luật quy định.
- Trách nhiệm của cơ quan thuế địa phương trong việc tổ chức thực hiện
- Các Cục Thuế địa phương có trách nhiệm chủ động phối hợp với Sở Tài chính, Sở Xây dựng và các cơ quan liên quan để tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh kịp thời điều chỉnh, bổ sung bảng giá tính lệ phí trước bạ đối với nhà ở sát với giá chuyển nhượng thực tế trên thị trường.
- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn người nộp thuế thực hiện đúng quy trình kê khai, nộp lệ phí trước bạ qua phương thức điện tử nhằm rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính và hạn chế tối đa các hành vi gian lận thuế.
- Thực hiện thanh tra, kiểm tra định kỳ đối với công tác quản lý thu lệ phí trước bạ tại các Chi cục Thuế trực thuộc nhằm kịp thời phát hiện, chấn chỉnh các sai sót trong khâu tiếp nhận hồ sơ và áp dụng giá tính thuế.
| TỔNG CỤC THUẾ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4271/TCT-TS | Hà Nội, ngày 24 tháng 11 năm 2005 |
Kính gửi : Cục thuế tỉnh Hòa Bình
Trả lời công văn số 1140/CT-TH&DT ngày 2/11/2005 của Cục Thuế tỉnh Hòa Bình về thu phí trước bạ đối với tài sản là nhà ở, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1- Về đối tượng chịu lệ phí trước bạ:
Căn cứ Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 176/1999/NĐ-CP ngày 21/12/1999 của Chính phủ về lệ phí trước bạ thì nhà, đất thuộc đối tượng chịu lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vì vậy, khi đăng ký quyền sử dụng đất có nhà trên đó thì chủ tài sản phải nộp lệ phí trước bạ theo giá trị cả nhà và đất trước khi được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc cấp GCN quyền sở hữu nhà và quyền SDĐ đã được quy định tại Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 20/10/2004 và Nghị định số 95/2005/NĐ-CP ngày 15/7/2005 của Chính phủ. Trường hợp cơ quan nhà nước tại địa phương không cấp GCN QSH nhà không thuộc thẩm quyền của ngành Thuế, đề nghị Cục Thuế hướng dẫn các tổ chức, cá nhân có tài sản liên hệ với các cơ quan chức năng tại địa phương để được giải quyết cụ thể.
2- Về giá tính lệ phí trước bạ:
Theo quy định tại Tiết b1 Điểm 2 Mục II Thông tư số 28/2000/TT-BTC ngày 18/4/2000 của Bộ Tài chính thì “Giá nhà mỗi m2 là giá trị thực tế theo Giá thị trường mỗi m2 sàn nhà theo cấp nhà, hạng nhà và chất lượng thực tế của nhà tại thời điểm kê khai lệ phí trước bạ”. Do vậy, trường hợp mua nhà của các Ban quản lý dự án thì giá tính lệ phí trước bạ là tổng giá trị nhà và đất ghi trên hóa đơn bán nhà, đất, nhưng không được thấp hơn giá nhà đất do UBND tỉnh quy định tại thời điểm trước bạ.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1 Nghị định 95/2005/NĐ-CP về việc cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, quyền sở hữu công trình xây dựng
- 2 Công văn số 413/TCT-TS của Tổng Cục Thuế về việc thu lệ phí trước bạ
- 3 Nghị định 176/1999/NĐ-CP về lệ phí trước bạ
- 4 Thông tư 28/2000/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định 176/1999/NĐ-CP về lệ phí trước bạ do Bộ Tài chính ban hành
- 5 Nghị định 181/2004/NĐ-CP thi hành Luật Đất đai