Giới thiệu về Công văn số 4832/TCHQ-KTTT
Công văn số 4832/TCHQ-KTTT được ban hành ngày 11/10/2004 bởi Tổng cục Hải quan. Đây là văn bản nghiệp vụ quan trọng nhằm hướng dẫn và giải quyết các vướng mắc liên quan đến việc xử lý phạt chậm nộp thuế nhập khẩu, đảm bảo tính thống nhất trong việc thực thi pháp luật hải quan và quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu tại thời điểm ban hành.
Thông tin thuộc tính hệ thống của văn bản
- Tên văn bản: Công văn số 4832/TCHQ-KTTT về việc phạt chậm nộp thuế nhập khẩu.
- Cơ quan ban hành: Tổng cục Hải quan.
- Ngày ban hành: 11/10/2004.
- Lĩnh vực điều chỉnh: Quản lý thuế, hải quan, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế nhập khẩu.
Các nội dung cốt lõi và định hướng xử lý
Căn cứ vào tính chất và tiêu đề của văn bản, nội dung chỉ đạo của Tổng cục Hải quan tập trung vào các vấn đề trọng tâm sau:
- Xác định đối tượng và hành vi chậm nộp thuế: Làm rõ các trường hợp tổ chức, cá nhân hoạt động xuất nhập khẩu không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế nhập khẩu đúng thời hạn quy định của pháp luật, dẫn đến việc phát sinh khoản phạt chậm nộp.
- Nguyên tắc và căn cứ tính phạt: Hướng dẫn các Cục Hải quan tỉnh, thành phố áp dụng đúng mức phạt chậm nộp, thời điểm bắt đầu tính phạt và thời gian chậm nộp thực tế theo các quy định pháp luật về thuế hiện hành tại thời điểm năm 2004.
- Biện pháp đôn đốc và cưỡng chế thu hồi nợ thuế: Chỉ đạo cơ quan hải quan các cấp thực hiện các biện pháp nghiệp vụ để đôn đốc doanh nghiệp nộp đủ tiền thuế và tiền phạt chậm nộp vào ngân sách nhà nước; áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết đối với các trường hợp cố tình chây ỳ.
Khuyến nghị: Do các điều khoản chi tiết của văn bản chưa được thể hiện toàn bộ trong tài liệu trích xuất, người đọc cần tham chiếu trực tiếp văn bản gốc Công văn số 4832/TCHQ-KTTT để áp dụng chính xác cho từng hồ sơ và hoàn cảnh cụ thể.
| TỔNG CỤC HẢI QUAN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4832/TCHQ-KTTT | Hà Nội, ngày 11 tháng 10 năm 2004 |
Kính gửi: Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh
Tổng cục Hải quan nhận được công văn số 29/07/CV-NH/2004 ngày 29 tháng 07 năm 2004 của Công ty chế biến thực phẩm thương mại Ngọc Hà về việc phạt chậm nộp thuế xuất, nhập khẩu. Về vấn đề này, Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:
Theo trình bày của Công ty chế biến thực phẩm thương mại Ngọc Hà tại công văn số 29/07/CV-NH/2004 nêu trên (kèm theo) thì năm 2000 Công ty nhập khẩu toàn bộ tôm sú từ ấn Độ để sản xuất hàng xuất khẩu theo tờ khai hàng nhập khẩu số 3807/NSX ngày 27/10/2000, số 4394/NSXXK ngày 06/12/2000 và đã thực xuất khẩu sản phẩm. Đến ngày 19/08/2004 năm 2004 Công ty xuất nốt 1769,3 kg nguyên liệu trên theo tờ khai xuất khẩu số 27363/XKKKD/KVI. Như vậy tổng số nguyên liệu theo khai báo nhập khẩu đã được đưa vào sản xuất sản phẩm xuất khẩu và không có phụ liệu (đầu, vỏ tôm,…). Mặt khác với thời gian từ khi nhập khẩu nguyên liệu đến khi xuất khẩu thành phẩm quá dài (hơn 3 năm) nên có thể nguyên liệu để sản xuất sản phẩm xuất khẩu không phải là nguyên liệu đã nhập khẩu tại các tờ khai hàng nhập khẩu số 3807/NSX, số 4394/NSXXK nêu trên.
Để đảm bảo việc hoàn thuế đúng đối tượng, tránh gian lận thương mại, yêu cầu Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra và báo cáo một số vấn đề sau trước ngày 20/10/2004:
1. Khai báo của doanh nghiệp về lượng phụ liệu sản xuất hàng xuất khẩu của số tôm nguyên liệu nhập khẩu sản xuất hàng xuất khẩu nêu trên.
2. Việc thực hiện kiểm tra, xác định hàng nhập khẩu, xuất khẩu và thanh khoản hồ sơ hoàn thuế nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu của số tôm sú nêu trên.
3. Gửi toàn bộ hồ sơ (bản fotocopy có đóng dấu sao y bản chính của Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh) nguyên liệu nhập khẩu, xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp về Tổng cục Hải quan (Vụ Kiểm tra thu thuế).
Tổng cục Hải quan thông báo để Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh biết và thực hiện.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC HẢI QUAN |
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.