Giới thiệu về Công văn số 846 TCT/NV7
Công văn số 846 TCT/NV7 được ban hành ngày 10/03/2003 bởi Tổng cục Thuế thuộc Bộ Tài chính, tập trung vào việc hướng dẫn nghiệp vụ và giải quyết các vướng mắc liên quan đến nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất. Đây là văn bản chỉ đạo quan trọng dành cho các Cục Thuế địa phương nhằm thống nhất quy trình quản lý thu nộp ngân sách nhà nước đối với lĩnh vực đất đai.
Các nội dung cốt lõi về việc nộp tiền sử dụng đất
- Xác định nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất: Hướng dẫn chi tiết về các trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất hoặc khi thực hiện hợp pháp hóa quyền sử dụng đất đối với đất đang sử dụng.
- Căn cứ và phương pháp tính tiền sử dụng đất: Quy định rõ các yếu tố cấu thành để xác định số tiền sử dụng đất phải nộp, bao gồm diện tích đất chịu thuế, giá đất áp dụng theo bảng giá của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tại thời điểm tính thuế, và các hệ số điều chỉnh liên quan theo quy định của Bộ Tài chính.
- Chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất: Làm rõ các đối tượng được hưởng ưu đãi miễn hoặc giảm tiền sử dụng đất, bao gồm các gia đình chính sách, người có công với cách mạng, hộ nghèo, hoặc các dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Hướng dẫn cụ thể về hồ sơ, quy trình và thẩm quyền xét duyệt miễn giảm.
- Quy trình kê khai, nộp thuế và xử lý vi phạm: Quy định trách nhiệm của người sử dụng đất trong việc kê khai thông tin địa chính, thời hạn nộp tiền vào kho bạc nhà nước, cũng như các biện pháp xử lý đối với các trường hợp chậm nộp hoặc trốn tránh nghĩa vụ tài chính về đất đai.
Ý nghĩa và tầm ảnh hưởng của văn bản
Công văn số 846 TCT/NV7 đóng vai trò thiết thực trong việc tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục hành chính thuế đất đai tại thời điểm ban hành. Văn bản giúp các cơ quan thuế địa phương áp dụng thống nhất các quy định pháp luật, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 846 TCT/NV7 | Hà Nội, ngày 10 tháng 3 năm 2003 |
Kính gửi: Cục thuế tỉnh Gia Lai
Trả lời công văn số 504/CT-NV ngày 28/5/2002 của Cục thuế về việc nộp tiền sử dụng đất; Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1. Căn cứ quy định tại Điểm 1.7. Điểm 2, Điểm 1.8 Phần C Thông tư số 115/2000/TT-BTC ngày 11/12/2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 38/2000/NĐ- CP ngày 23/8/2000 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất thì việc miễn tiền sử dụng đất chỉ xét một lần theo hộ gia đình cho những người có chung quyền sử dụng đất hợp pháp và diện tích đất tính theo các mảnh đất thực tế mà họ có quyền sử dụng nhưng tối đa không vượt quá hạn mức đất ở cho hộ gia đình theo quy định. Trường hợp người sử dụng mảnh đất thuộc diện chính sách xã hội đã có nhà ở, đất ở nay có thêm lô đất mới thì họ vẫn được xét miễn giảm tiền sử dụng đất nếu đất ở cũ chưa vượt quá hạn mức đất ở theo hộ gia đình và chỉ được xét miễn giảm cho phần diện tích đất ở còn so với hạn mức đất ở của hộ đó.
Đối với cán bộ, chiến sỹ thuộc các đơn vị quân đội có doanh trại đóng quân trên địa bàn thuộc tỉnh, thành phố (có đăng ký hộ khẩu với tỉnh theo phân cấp quản lý) được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất làm nhà ở. Nếu người được giao đất là thương binh, người có công với cách mạng thì thuộc đối tượng để xét giảm tiền sử dụng đất theo quy định. Trường hợp cán bộ, chiến sỹ không có hộ khẩu trên địa bàn thuộc tỉnh, thành phố đó thì không đủ cơ sở để xét giảm tiền sử dụng đất theo quy định.
2. Theo quy định tại Điểm 1.8 Phần C Thông tư số 115/2000/TT-BTC trên thì việc miễn tiền sử dụng đất chỉ xét một lần đối với hộ gia đình cho những người có chung quyền sử dụng đất chỉ xét một lần đối với hộ gia đình cho những người có chung quyền sử dụng đất hợp pháp và không có quy định xét cho hưởng thay. Vì vậy, người được thừa kế đất đai của người chết không được xem xét giảm tiền sử dụng đất theo quy định đối với diện tích đất nhận thừa kế nếu có người thừa kế không phải là đối tượng được xét miễn giảm tiền sử dụng đất.
3. Theo quy định tại Mục II phần F Thông tư số 115/2000/TT-BTC trên thì:
- Các trường hợp nộp tiền sử dụng đất sau ngày Nghị định số 38/2000/NĐ-CP có hiệu lực thi hành (8/9/2000) được thực hiện nộp tiền sử dụng đất, xử lý miễn giảm và xét chậm nộp tiền sử dụng đất theo hướng dẫn tại Thông tư này.
- Các trường hợp đã nộp đủ tiền sử dụng đất theo quy định trước ngày Nghị định số 38/2000/NĐ-CP có hiệu lực thi hành thì không truy thu truy hoàn theo quy định này.
- Trường hợp đối tượng thương binh nếu đã làm thủ tục xin cấp chứng nhận quyền sử dụng đất và đã nộp tiền sử dụng đất vào Ngân sách nhà nước (kể cả phần xin chậm nộp) trước ngày Nghị định số 38/2000/NĐ-CP có hiệu lực thi hành thì không được xét giảm tiền sử dụng đất theo quy định.
Nếu người nộp tiền sử dụng đất tiếp tục có khó khăn không có khả năng nộp được tiền sử dụng đất thì tiếp tục làm đơn xin gia hạn chậm nộp tiền sử dụng đất theo quy định.
Tổng cục thuế thông báo để cục thuế biết và thực hiện./.
|
| KT TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ |