Tổng quan về Công văn số 9989/BCT-XNK
Công văn số 9989/BCT-XNK được Bộ Công thương ban hành nhằm đóng góp ý kiến chuyên môn gửi Bộ Tài chính về đề xuất điều chỉnh thuế suất thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) đối với mặt hàng sắt thép. Đây là văn bản quan trọng nhằm cân đối cung cầu, bình ổn giá thép trong nước trước những biến động mạnh của thị trường nguyên liệu thế giới, đồng thời bảo vệ lợi ích hợp pháp của cả doanh nghiệp sản xuất và tiêu dùng nội địa.
1. Quan điểm về việc điều chỉnh thuế xuất khẩu phôi thép
Đối với đề xuất tăng thuế xuất khẩu mặt hàng phôi thép (nhóm HS 72.06 và 72.07), Bộ Công thương đã đưa ra các phân tích và kiến nghị cụ thể:
- Đánh giá năng lực sản xuất trong nước: Hiện nay, năng lực sản xuất phôi thép của các doanh nghiệp Việt Nam đã vượt nhu cầu tiêu thụ nội địa. Việc xuất khẩu phôi thép dư thừa giúp các doanh nghiệp tối ưu hóa công suất sản xuất, giải quyết việc làm và cải thiện dòng tiền.
- Tác động của việc tăng thuế: Việc tăng thuế xuất khẩu phôi thép lên mức cao có thể gây ùn ứ nguồn cung trong nước, gây khó khăn cho các doanh nghiệp sản xuất phôi, đặc biệt là các doanh nghiệp lò điện vốn đang gặp khó khăn về chi phí nguyên liệu đầu vào.
- Đề xuất giải pháp: Bộ Công thương kiến nghị cần cân nhắc mức thuế suất xuất khẩu phôi thép hợp lý, tránh việc tăng thuế quá cao đột ngột để doanh nghiệp có thời gian thích ứng và điều chỉnh kế hoạch sản xuất kinh doanh.
2. Quan điểm về việc điều chỉnh thuế nhập khẩu sắt thép thành phẩm
Đối với đề xuất giảm thuế nhập khẩu ưu đãi (MFN) đối với một số mặt hàng sắt thép thành phẩm, Bộ Công thương có ý kiến như sau:
- Đối với thép xây dựng và thép tấm lá mạ: Đây là những mặt hàng mà năng lực sản xuất trong nước đã hoàn toàn đáp ứng đủ nhu cầu và có xuất khẩu lớn. Việc giảm thuế nhập khẩu cần được xem xét thận trọng để tránh tạo áp lực cạnh tranh quá lớn từ thép nhập khẩu giá rẻ, bảo vệ ngành sản xuất thép non trẻ trong nước.
- Đối với thép cuộn cán nóng (HRC): Thép HRC là nguyên liệu đầu vào quan trọng cho ngành sản xuất tôn mạ, ống thép và cơ khí chế tạo. Do năng lực sản xuất trong nước chưa đáp ứng đủ nhu cầu, Bộ Công thương thống nhất việc xem xét điều chỉnh giảm thuế nhập khẩu MFN đối với thép HRC để hạ giá thành sản xuất cho các ngành hạ nguồn.
- Nguyên tắc điều chỉnh: Việc điều chỉnh thuế nhập khẩu phải dựa trên nguyên tắc hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp sản xuất thép thượng nguồn và doanh nghiệp sử dụng thép hạ nguồn, đảm bảo tính cạnh tranh lành mạnh của nền kinh tế.
3. Các kiến nghị giải pháp đồng bộ để ổn định thị trường thép
Để giải quyết triệt để vấn đề giá thép biến động và đảm bảo phát triển bền vững, Bộ Công thương đề xuất các giải pháp phối hợp liên ngành:
- Tăng cường phòng vệ thương mại: Sử dụng hiệu quả các công cụ phòng vệ thương mại (như thuế tự vệ, thuế chống bán phá giá) để ngăn chặn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh từ thép nhập khẩu.
- Kiểm soát thị trường và chống đầu cơ: Phối hợp với các cơ quan quản lý thị trường để kiểm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động phân phối thép, ngăn chặn tình trạng găm hàng, thổi giá nhằm trục lợi.
- Khuyến khích sử dụng thép nội địa: Thúc đẩy việc sử dụng các sản phẩm sắt thép sản xuất trong nước tại các dự án đầu tư công và công trình xây dựng trọng điểm quốc gia.
| BỘ CÔNG THƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 9989/BCT-XNK | Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2008 |
Kính gửi: Bộ Tài chính
Bộ Công thương nhận được văn bản của Hiệp hội thép Việt Nam, Tổng công ty Thép Việt Nam và một số doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thép kiến nghị điều chỉnh thuế suất thuế xuất khẩu và thuế suất thuế nhập khẩu đối với một số sản phẩm sắt, thép. Căn cứ tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu và biến động thị trường sắt thép trong thời gian gần đây, Bộ Công Thương có ý kiến như sau:
- Đề nghị Bộ Tài chính xem xét tiếp tục giảm thuế suất thuế xuất khẩu phôi thép xuống 0%:
Giá phôi thép trên thế giới hiện giảm mạnh từ trên 1.150 USD/tấn (đầu tháng 7/2008) xuống chỉ còn khoảng 515-520 USD/tấn (giảm trên 55%). Trong nước, phôi thép tồn kho tại các doanh nghiệp khoảng 500.000 tấn, chưa kể lượng phôi thép sản xuất bình quân trên 100.000 tấn/tháng. Bên cạnh đó, nhu cầu về phôi thép trong nước tiếp tục giảm, ước tính chỉ khoảng 110.000 tấn/tháng cho những tháng cuối năm. Như vậy, lượng phôi thép dư thừa là rất lớn, khả năng thiếu phôi thép khó có thể xảy ra. Các doanh nghiệp sản xuất phôi thép hiện đang gặp nhiều khó khăn, các nhà máy đều phải dừng sản xuất hoặc sản xuất cầm chừng. Giá phôi thép thế giới xuống thấp cũng ảnh hưởng mạnh thêm đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất trong nước.
Nhằm từng bước tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp giải quyết tồn kho, tạo điều kiện thu hồi vốn ngoại tệ trang trải chi phí.... Bộ Công Thương đề nghị Bộ Tài chính tiếp tục điều chỉnh giảm thuế suất thuế xuất khẩu phôi thép xuống 0%.
Đề nghị Bộ Tài chính tăng thuế suất thuế nhập khẩu đối với thép xây dựng thuộc các nhóm 7213, 7214, và 7215 (trừ que hàn và các loại sản phẩm sắt thép khác thuộc các nhóm này)
Công suất cán thép xây dựng của Việt Nam đã ở mức 7 triệu tấn/năm, trong khi nhu cầu thép xây dựng chỉ ở mức 4 - 4,5 triệu tấn/năm. Do vậy, hầu hết các nhà máy thép hoạt động không đạt công suất thiết kế. Giá thép trên thị trường đã giảm mạnh (từ 17,6 triệu đồng/ tấn trong tháng 7 xuống còn 13,820 triệu/tấn trong tháng 10 năm 2008). Việc tiêu thụ và giá thép xây dựng dự báo sẽ còn tiếp tục khó khăn.
Hiện nay, mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với các mặt hàng thép xây dựng đang ở mức 8%, thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt CEPT/AFTA là 5%, thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt ACFTA ở mức rất cao (nhóm 7213: 16%, nhóm 7214: 18% và 25%, nhóm 7215: 25%). Tuy nhiên, lượng thép nhập khẩu từ ASEAN không nhiều, lượng thép nhập khẩu từ Trung Quốc có xu hướng tăng và chiếm thị phần tương đối, sẽ chỉ chịu mức thuế suất 8%.
Để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, tiêu thụ thép trong nước, góp phần kiềm chế nhập siêu, Bộ Công Thương đề nghị Bộ Tài chính xem xét tăng thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với mặt hàng thép xây dựng thuộc các nhóm 7213, 7214, 7215 lên mức 20%.
Bộ Công Thương xin trao đổi và đề nghị quý Bộ xem xét, quyết định sớm./.
|
| KT. BỘ TRƯỞNG |
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.
- 1 Công văn 678/BTC-CST về thuế suất thuế nhập khẩu mặt hàng thép không gỉ cán nguội do Bộ tài chính ban hành
- 2 Công văn 11018/BCT-XNK về việc điều chỉnh thuế suất thuế xuất khẩu than và khoáng sản do Bộ Công thương ban hành
- 3 Công văn 15919/BTC-CST năm 2013 điều chỉnh thuế xuất khẩu mặt hàng bột cacbonat canxi siêu mịn do Bộ Tài chính ban hành
- 4 Công văn 8026/TCHQ-TXNK năm 2013 thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi vật tư, linh kiện sản xuất sản phẩm công nghệ thông tin do Tổng cục Hải quan ban hành
- 1 Công văn 678/BTC-CST về thuế suất thuế nhập khẩu mặt hàng thép không gỉ cán nguội do Bộ tài chính ban hành
- 2 Công văn 11018/BCT-XNK về việc điều chỉnh thuế suất thuế xuất khẩu than và khoáng sản do Bộ Công thương ban hành
- 3 Công văn 15919/BTC-CST năm 2013 điều chỉnh thuế xuất khẩu mặt hàng bột cacbonat canxi siêu mịn do Bộ Tài chính ban hành
- 4 Công văn 8026/TCHQ-TXNK năm 2013 thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi vật tư, linh kiện sản xuất sản phẩm công nghệ thông tin do Tổng cục Hải quan ban hành