Công văn về đất đai của các dự án có vốn đầu tư nước ngoài (chưa rõ số hiệu, cơ quan ban hành và ngày ban hành cụ thể) là văn bản hướng dẫn các nội dung liên quan đến quản lý và sử dụng đất đai đối với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với các nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư có sử dụng đất tại Việt Nam, cùng các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực đất đai.
Nội dung cốt lõi của các điều khoản đầu (Từ Điều 1 đến Điều 4)
Dựa trên phần trích xuất nội dung ban đầu, văn bản tập trung làm rõ các quy định nền tảng sau:
- Phạm vi điều chỉnh và nguyên tắc áp dụng: Xác định các nguyên tắc chung trong việc giao đất, cho thuê đất và quản lý đất đai đối với các dự án có yếu tố nước ngoài.
- Xác định đối tượng thụ hưởng và thực hiện quy định: Làm rõ các chủ thể là nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thuộc phạm vi điều chỉnh của văn bản.
- Các quy định ban đầu về tiếp cận đất đai: Hướng dẫn sơ bộ về quyền tiếp cận đất đai, hình thức sử dụng đất (thuê đất trả tiền hàng năm hoặc trả tiền một lần) của các dự án đầu tư nước ngoài.
Hiệu lực thi hành
Thông tin về ngày có hiệu lực và tình trạng hiệu lực của văn bản này hiện chưa được xác định cụ thể trong tài liệu trích xuất.
| UỶ BAN NHÀ NƯỚC VỀ HỢP TÁC VÀ ĐẦU TƯ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 688-UB/VP | Hà Nội, ngày 04 tháng 4 năm 1995 |
| Kính gửi: | - Các Bộ, Tổng cục |
Thời gian qua việc đền bù, giải toả diện tích đất sử dụng cho các dự án đầu tư nước ngoài, phát sinh nhiều vấn đề gây khó khăn cho việc thực hiện dự án, ảnh hưởng không lợi đến môi trường đầu tư. Có trường hợp bên Việt Nam thay đổi nhiều lần mức giá đền bù, đòi hỏi nhà đầu tư phải nhiều lần bổ sung. Có trường hợp bên Việt Nam yêu cầu mức đền bù quá lớn, bên nước ngoài không chấp nhận, đành bỏ dự án; trái lại có trường hợp vì để dễ dàng có mau dự án nên tính toán không đủ mức chi phí đền bù, khi thực hiện, thiếu hụt quá nhiều, gây ách tắc công việc. Có trường hợp bên Việt Nam không tính kỹ khả năng giải toả công trình xây dựng hoặc dân cư nên việc giải toả kéo dài thời gian, cho khi đến 2-3 năm, làm chậm trễ việc thực hiện dự án. Có trường hợp do không phân định rõ ngay từ đầu đất quốc phòng hay đất dân sự nên khi thực hiện dự án gặp nhiều vướng mắc. Sở dĩ có tình hình nói trên, trước hết do công tác chuẩn bị của phía ta không chu đáo, không đầy đủ trước khi tiến hành đàm phán và thoả thuận với bên nước ngoài.
Nhằm khắc phục tình trạng nói trên, dựa tên theo quy định của Nghị định 191-CP ngày 28-12-1994, Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư đề nghị Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố và các ngành hướng dẫn bên Việt Nam làm thật rõ các vấn đề sau đây trước khi đàm phán và thoả thuận với phía nước ngoài:
1- Khả năng giải toả công trình xây dựng và dân cử: nếu xét thấy không có khả năng giải toả thì dứt khoát không dùng diện tích ấy để hợp tác nước ngoài.
2- Điều tra thật kỹ khối lượng đền bù giải toả cần thực hiện; tính toán chính xác mức giá đền bù giải toả. Cần thoả thuận trước với những đối tượng được đền bù giải toả về mức chi phí hợp lý. Hết sức tránh tình trạng thay đổi nhiều lần.
3- Trường hợp liên quan sử dụng đất quốc phòng, đất có công trình quốc phòng hoặc đất có di tích lịch sử thì cần bàn và đạt được sự thoả thuận của cơ quan quốc phòng và văn hoá trước khi tiến hành đàm phán với bên nước ngoài.
4- Tính toán kỹ tiến độ giải toả, để thông báo cho phía nước ngoài trong khi đàm phán.
Rút kinh nghiệm thời gian quá, từ nay về sau, việc đền bù giải toả cần được trình bày kỹ trong hồ sơ dự án, để việc xét duyệt dự án cũng như thực hiện dự án sau khi có Giấy phép đầu tư không bị kéo dài, ảnh hưởng đến thời gian quy định trong Nghị định 191-CP ngày 28-12-1994 của Chính phủ.
|
| Đậu Ngọc Xuân (Đã ký) |