Công văn về việc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) kiểm sát công tác xét xử của Tòa án nhân dân (TAND) là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng nhằm làm rõ các quy định pháp lý liên quan đến vai trò, chức năng và phạm vi giám sát của cơ quan kiểm sát đối với hoạt động xét xử của hệ thống Tòa án. Văn bản hướng tới việc thống nhất nhận thức và áp dụng pháp luật, bảo đảm hoạt động xét xử được diễn ra khách quan, công bằng và đúng quy định.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
- Phạm vi áp dụng: Áp dụng trong công tác kiểm sát hoạt động xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh doanh thương mại, lao động và các việc khác thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
- Đối tượng áp dụng: Viện kiểm sát nhân dân các cấp, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân các cấp, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình tố tụng.
Nội dung cốt lõi của văn bản (Điều 1 đến Điều 4)
1. Quy định chung về thẩm quyền kiểm sát hoạt động xét xử (Điều 1)
- Khẳng định chức năng hiến định của VKSND trong việc kiểm sát hoạt động tư pháp, bảo đảm mọi hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều tuân thủ nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật.
- Xác định mục đích của công tác kiểm sát xét xử là bảo đảm các bản án, quyết định của TAND có căn cứ, hợp pháp, không để xảy ra tình trạng oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân.
2. Phạm vi kiểm sát trong các giai đoạn tố tụng (Điều 2)
- Xác định rõ VKSND thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án, từ thụ lý cho đến khi ban hành bản án, quyết định.
- Giám sát chặt chẽ tính hợp pháp của các bản án sơ thẩm, phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm và các quyết định giải quyết khác của Tòa án nhằm phát hiện kịp thời các vi phạm nghiêm trọng về thủ tục hoặc nội dung.
3. Quyền hạn của VKSND khi thực hiện kiểm sát xét xử (Điều 3)
- Quyền yêu cầu và tiếp cận hồ sơ: VKSND có quyền yêu cầu TAND chuyển hồ sơ vụ án, vụ việc để nghiên cứu, xem xét việc kháng nghị hoặc thực hiện quyền công tố, kiểm sát theo quy định của pháp luật tố tụng.
- Quyền phát biểu ý kiến: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, phiên họp có quyền phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án và việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng.
- Quyền kháng nghị, kiến nghị: Khi phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định hoặc trong hoạt động tố tụng của Tòa án, VKSND có quyền ban hành kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm hoặc ban hành kiến nghị yêu cầu khắc phục vi phạm.
4. Trách nhiệm phối hợp giữa VKSND và TAND (Điều 4)
- Quy định về cơ chế phối hợp thông tin, giao nhận văn bản tố tụng, chuyển giao hồ sơ vụ án giữa hai cơ quan nhằm bảo đảm tiến độ giải quyết vụ án đúng thời hạn luật định.
- Xác định nguyên tắc giải quyết các tranh chấp, bất đồng quan điểm về thẩm quyền hoặc đường lối xử lý vụ án trên cơ sở thảo luận, thống nhất hoặc báo cáo cơ quan có thẩm quyền cấp trên giải quyết theo quy định.
Hiệu lực thi hành
Hiện tại, các thông tin về ngày ban hành, cơ quan ban hành cụ thể cũng như ngày có hiệu lực của văn bản này chưa được xác định rõ ràng. Các cơ quan, đơn vị khi thực hiện nhiệm vụ cần chủ động đối chiếu với Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, các Bộ luật tố tụng hiện hành và các văn bản hướng dẫn liên quan để bảo đảm áp dụng đúng quy định pháp luật.
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 07/KHXX | Hà Nội, ngày 21 tháng 2 năm 1997 |
Kính gửi: Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh
Sau khi nghiên cứu Công văn ngày 27-1-1997 của Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh hỏi về thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân trong việc kiểm sát công tác xét xử của Toà án nhân dân, Toà án nhân dân tối cao có ý kiếm như sau:
Theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992 và quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử vụ án hình sự Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Thực hành quyền công tố trước Toà án nhân dân cùng cấp;
- Yêu cầu Toà án nhân dân cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ những vụ án hình sự cần thiết cho công tác kiểm sát xét xử;
- Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, Quyết định của Toà án nhân dân theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Như vậy, theo các quy định này thì Viện kiểm sát nhân dân không có quyền kiểm sát công tác xét xử án hình sự của Toà án nhân dân cùng cấp và cấp dưới bằng việc lập đoàn kiểm tra (liên ngành hay chỉ riêng của Viện kiểm sát nhân dân) để kiểm tra tất cả các vụ án hình sự mà Toà án nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện đã xét xử về một loại tội nào đó cũng như có áp dụng Điều 44 Bộ luật Hình sự về án treo... Chỉ khi xét thấy cần thiết cho công tác kiểm sát xét xử Viện kiểm sát mới có quyền yêu cầu Toà án chuyển những hồ sơ vụ án cụ thể. Mọi thủ tục giao nhận hồ sơ đều phải thực hiện theo đúng các hướng dẫn tại Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 8-12-1988 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao "Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự".
Vì vậy, quý Toà cần trao đổi lại với Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh về việc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh lập đoàn kiểm tra liên ngành để kiểm tra việc áp dụng các quy định của Điều 44 Bộ luật hình sự trong xét xử của Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh và các Toà án cấp huyện của tỉnh Tây Ninh là không đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Bộ luật tố tụng hình sự.
|
| Trịnh Hồng Dương (Đã ký) |
- 1 Thông tư liên tịch 01-TANDTC-VKSNDTC/TTLT năm 1988 hướng dẫn bộ luật tố tụng hình sự do Tòa án nhân dân tối cao - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ban hành
- 2 Bộ luật Hình sự 1985
- 3 Bộ luật tố tụng hình sự 1988
- 4 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1992
- 5 Hướng dẫn 02/HD-VKSTC về công tác Thực hành quyền công tố, Kiểm sát điều tra và Kiểm sát xét xử sơ thẩm ma túy năm 2018 do Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ban hành