Công văn về việc thuế giá trị gia tăng giữa giá thầu và giá thiết bị nhập khẩu hướng dẫn chi tiết về phương pháp xác định, kê khai và nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với các trang thiết bị nhập khẩu nằm trong gói thầu cung cấp, lắp đặt thiết bị cho các dự án đầu tư tại Việt Nam.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản này áp dụng đối với các chủ đầu tư dự án, các nhà thầu trong nước và nhà thầu nước ngoài thực hiện gói thầu cung cấp thiết bị nhập khẩu, cơ quan thuế, cơ quan hải quan các cấp cùng các tổ chức, cá nhân có liên quan trực tiếp đến hoạt động đấu thầu và nhập khẩu hàng hóa.
Nguyên tắc xác định giá tính thuế GTGT đối với thiết bị nhập khẩu
- Đối với thiết bị nhập khẩu thuộc gói thầu mua sắm, giá tính thuế GTGT ở khâu nhập khẩu được xác định là giá trị khai báo hải quan (giá CIF hoặc FOB) cộng với thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường (nếu có).
- Khi nhà thầu bàn giao thiết bị cho chủ đầu tư theo giá trúng thầu, giá tính thuế GTGT là giá bán thiết bị ghi trên hợp đồng ký kết giữa nhà thầu và chủ đầu tư (chưa bao gồm thuế GTGT). Giá này thường bao gồm giá trị thiết bị, chi phí vận chuyển nội địa, chi phí quản lý, lợi nhuận và các chi phí phát sinh khác của nhà thầu.
Xử lý chênh lệch giữa giá thầu và giá thiết bị nhập khẩu
- Nhà thầu thực hiện nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu tại cơ quan hải quan theo đúng tờ khai hải quan và các chứng từ nộp thuế liên quan.
- Khi xuất hóa đơn GTGT bàn giao thiết bị cho chủ đầu tư, nhà thầu phải tính thuế GTGT đầu ra dựa trên toàn bộ giá trị trúng thầu (giá bán ra thực tế).
- Số thuế GTGT đã nộp ở khâu nhập khẩu được coi là thuế GTGT đầu vào và nhà thầu được quyền kê khai, khấu trừ toàn bộ số thuế này với số thuế GTGT đầu ra khi quyết toán thuế với cơ quan thuế địa phương.
- Phần chênh lệch giữa giá trúng thầu và giá thiết bị nhập khẩu (sau khi trừ đi các chi phí hợp lý, hợp lệ) chính là phần giá trị gia tăng phát sinh trong nước, chịu thuế GTGT theo thuế suất quy định của mặt hàng đó.
Nghĩa vụ thuế đối với nhà thầu nước ngoài
- Trường hợp nhà thầu trúng thầu là nhà thầu nước ngoài không thực hiện chế độ kế toán Việt Nam, việc nộp thuế GTGT sẽ được thực hiện theo quy định về thuế nhà thầu nước ngoài.
- Chủ đầu tư tại Việt Nam có trách nhiệm khấu trừ, kê khai và nộp thay thuế GTGT cho nhà thầu nước ngoài theo tỷ lệ phần trăm (%) tính trên doanh thu tính thuế quy định cho hoạt động cung cấp thiết bị kèm lắp đặt hoặc không kèm lắp đặt.
- Trường hợp nhà thầu nước ngoài nộp thuế theo phương pháp khấu trừ (áp dụng chế độ kế toán Việt Nam), nhà thầu thực hiện kê khai và nộp thuế GTGT tương tự như doanh nghiệp trong nước.
Hiệu lực thi hành
Văn bản hướng dẫn này được áp dụng đồng bộ với các quy định tại Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành hiện hành. Các trường hợp phát sinh vướng mắc cụ thể về số liệu chênh lệch thực tế cần được đối chiếu trực tiếp với hồ sơ hải quan và hợp đồng thầu để xử lý theo đúng quy định pháp luật.
| TỔNG CỤC HẢI QUAN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 868/TCHQ-KTTT | Hà Nội, ngày 06 tháng 3 năm 2000 |
Kính gửi: Cục Hải quan các tỉnh, thành phố
Ngày 1/2/2000, Tổng cục Hải quan đã ban hành Công văn số 507/TCHQ-KTTT hướng dẫn một số điểm về việc áp dụng thuế giá trị gia tăng. Nay Tổng cục làm rõ thêm nội dung điểm 4 Công văn trên như sau:
Căn cứ quy định tại Thông tư số 89/1998/TT-BTC ngày 27/6/1998, Thông tư số 175/1998/TT-BTC ngày 24/12/1998 và Công văn số 3420 TC/TCT ngày 12/7/1999 của Bộ Tài chính; thì:
Các doanh nghiệp tham gia đấu thầu các hợp đồng nhập khẩu thiết bị máy móc phương tiện vận tải chuyên dùng thuộc loại không chịu thuế giá trị gia tăng hàng nhập, sau khi trúng thầu đã tiến hành các thủ tục nhập khẩu trọn gói bao gồm cả dây chuyền công nghệ lắp đặt và có chuyên gia hướng dẫn vận hành thì trong giá thanh toán với bên chủ đầu tư, phần giá trị thiết bị sẽ không tính thuế giá trị gia tăng. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ này sẽ xuất 2 hoá đơn, 1 hoá đơn bán hàng ghi giá thiết bị nhập khẩu theo giá thanh toán với nước ngoài và một hoá đơn GTGT ghi số chênh lệch giữa giá thanh toán với chủ đầu tư và giá thiết bị nhập. Cơ quan thuế nội địa sẽ thực hiện thu thuế giá trị gia tăng phần chênh lệch này.
Yêu cầu Cục Hải quan các tỉnh, thành phố kiểm tra các lô hàng nhập khẩu thuộc đối tượng trên nếu hàng hoá được xác định thuộc diện không chịu thuế GTGT khâu nhập khẩu như quy định tại khoản 4, Điều 4 Luật thuế giá trị gia tăng thì thực hiện thủ tục không thu thuế GTGT khâu nhập khẩu theo quy định và không yêu cầu doanh nghiệp phải nộp thuế GTGT phần chênh lệch giá giá đấu thầu và giá thiết bị ngay tại cửa khẩu nhập. Các doanh nghiệp sẽ có trách nhiệm nộp thuế GTGT đối với phần chênh lệch này với cơ quan thuế nội địa.
Tổng cục Hải quan thông báo để Cục Hải quan các tỉnh, thành phố biết và thực hiện.
|
| Hoả Ngọc Tâm (Đã ký)
|
- 1 Thông tư 89/1998/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 28/1998/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) do Bộ Tài Chính ban hành
- 2 Thông tư 175/1998/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 102/1998/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 28/1998/NĐ-CP thi hành Luật thuế giá trị gia tăng do Bộ Tài chính ban hành
- 1 Luật Thuế giá trị gia tăng 1997
- 2 Thông tư 89/1998/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 28/1998/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) do Bộ Tài Chính ban hành
- 3 Thông tư 175/1998/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 102/1998/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 28/1998/NĐ-CP thi hành Luật thuế giá trị gia tăng do Bộ Tài chính ban hành
- 4 Công văn của Tổng cục hải quan số 507/TCHQ-KTTT về việc hướng dẫn xử lý thuế giá trị gia tăng đối với thiết bị nhập khẩu
- 5 Công văn số 1107/TCHQ-KTTT về việc danh mục các văn bản hướng dẫn về thuế GTGT không còn hiệu lực do Tổng cục Hải quan ban hành