Chỉ thị số 35/2005/CT-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức thực hiện Nghị định thư Kyoto thuộc Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu là văn bản pháp lý quan trọng, đặt nền móng cho việc triển khai các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và thực hiện Cơ chế phát triển sạch (CDM) tại Việt Nam.
Bối cảnh và mục tiêu cốt lõi của Chỉ thị
Việt Nam đã phê chuẩn Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) và Nghị định thư Kyoto. Để thực hiện hiệu quả các cam kết quốc tế, đồng thời tận dụng các cơ hội hỗ trợ tài chính và chuyển giao công nghệ tiên tiến thông qua Cơ chế phát triển sạch (CDM), Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị này nhằm phân công trách nhiệm cụ thể cho các bộ, ngành và địa phương trong việc tổ chức thực hiện.
Nhiệm vụ trọng tâm của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Bộ Tài nguyên và Môi trường được giao vai trò là cơ quan đầu mối quốc gia thực hiện UNFCCC và Nghị định thư Kyoto tại Việt Nam. Các nhiệm vụ cụ thể bao gồm:
- Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Nghị định thư Kyoto.
- Thực hiện vai trò là Cơ quan thẩm quyền quốc gia về CDM (DNA) tại Việt Nam, chịu trách nhiệm tiếp nhận, thẩm định và phê duyệt các tài liệu dự án CDM.
- Xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn quy trình, thủ tục xây dựng, thẩm định và phê duyệt các dự án CDM phù hợp với quy định quốc tế và điều kiện thực tế của Việt Nam.
- Chủ trì hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức và năng lực cho các tổ chức, doanh nghiệp và người dân về biến đổi khí hậu và cơ chế CDM.
Trách nhiệm phối hợp của các Bộ, ngành liên quan
Để đảm bảo tính đồng bộ trong quá trình triển khai, Chỉ thị quy định rõ trách nhiệm của các Bộ quản lý chuyên ngành trong việc thúc đẩy các dự án giảm phát thải:
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Phối hợp lồng ghép các hoạt động thực hiện Nghị định thư Kyoto và CDM vào chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài cho các dự án CDM.
- Bộ Tài chính: Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng cơ chế tài chính áp dụng cho các dự án CDM, bao gồm các quy định về thuế, phí và lệ phí liên quan đến việc chuyển nhượng chứng chỉ giảm phát thải được chứng nhận (CERs).
- Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương): Thúc đẩy các dự án CDM trong lĩnh vực năng lượng, công nghiệp, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, phát triển năng lượng tái tạo.
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Nghiên cứu và triển khai các dự án CDM trong lĩnh vực lâm nghiệp (trồng rừng, tái trồng rừng) và nông nghiệp giảm phát thải.
- Bộ Khoa học và Công nghệ: Hỗ trợ việc nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng công nghệ sạch, công nghệ thân thiện với môi trường phục vụ cho các dự án giảm phát thải khí nhà kính.
Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài nguyên và Môi trường và các bộ, ngành liên quan để thực hiện các nội dung sau:
- Tuyên truyền, phổ biến kiến thức về biến đổi khí hậu và cơ chế CDM tại địa phương nhằm nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, tổ chức trên địa bàn tiến hành khảo sát, xây dựng và triển khai thực hiện các dự án CDM.
- Lồng ghép các mục tiêu giảm phát thải và ứng phó với biến đổi khí hậu vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Ý nghĩa và tác động của Chỉ thị đối với công tác ứng phó biến đổi khí hậu
Chỉ thị số 35/2005/CT-TTg là bước đi chiến lược mở đường cho việc hình thành thị trường carbon sơ khai tại Việt Nam thông qua cơ chế CDM. Văn bản này không chỉ giúp Việt Nam thực hiện tốt nghĩa vụ thành viên quốc tế mà còn tạo ra kênh thu hút vốn đầu tư nước ngoài chất lượng cao, thúc đẩy chuyển giao công nghệ hiện đại, góp phần bảo vệ môi trường và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đất nước.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 35/2005/CT-TTG | Hà Nội, ngày 17 tháng 10 năm 2005 |
Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu nhằm ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển để bảo vệ hệ thống khí hậu trên trái đất, bảo đảm an ninh lương thực và tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế - xã hội của loài người một cách bền vững.
Nghị định thư Kyoto của Công ước khí hậu là văn bản pháp lý để thực hiện Công ước khí hậu, đã có hiệu lực thi hành từ ngày 16 tháng 02 năm 2005. Nội dung quan trọng của Nghị định thư Kyoto là đưa ra chỉ tiêu giảm phát thải khí nhà kính có tính ràng buộc pháp lý đối với các nước phát triển và cơ chế giúp các nước đang phát triển đạt được sự phát triển kinh tế - xã hội một cách bền vững thông qua thực hiện ''Cơ chế phát triển sạch'' (CDM). Dự án CDM được đầu tư vào các lĩnh vực như: năng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, nông nghiệp, lâm nghiệp và quản lý chất thải.
Việt Nam đã phê chuẩn Công ước khí hậu và Nghị định thư Kyoto nên được hưởng những quyền lợi dành cho các nước đang phát triển trong việc tiếp nhận hỗ trợ tài chính và chuyển giao công nghệ mới từ các nước phát triển thông qua các dự án CDM.
Để triển khai có hiệu quả Nghị định thư Kyoto về biến đổi khí hậu tại Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ chỉ thị cho các Bộ, ngành liên quan thực hiện các việc sau:
a) Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Ngoại giao và các Bộ, ngành liên quan xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ vào quý IV năm 2005 kế hoạch tổ chức thực hiện Nghị định thư Kyoto cho giai đoạn 2006 - 2010, có xác định các ngành, lĩnh vực ưu tiên của Việt Nam, phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước giai đoạn 2006 - 2010;
b) Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu dự báo thị trường buôn bán các ''Giảm phát thải được chứng nhận - CERs'' và hướng dẫn các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp xây dựng dự án CDM tại Việt Nam trình cấp có thẩm quyền phê duyệt;
c) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan đảm bảo lồng ghép các hoạt động thực hiện CDM với các hoạt động thực hiện các công ước hoặc cam kết quốc tế khác về môi trường mà Việt Nam đã tham gia ký kết.
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm khẩn trương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành các cơ chế, chính sách thuộc phạm vi quản lý nhằm khuyến khích thực hiện CDM.
Chỉ thị này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tổ chức thực hiện Chỉ thị này.
Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra việc thực hiện của các Bộ, ngành, địa phương và hàng năm báo cáo Thủ tướng Chính phủ tình hình thực hiện Chỉ thị này./.
|
Nơi nhận:
| THỦ TƯỚNG |
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.