Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành ngày 24 tháng 4 năm 2024 và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2024. Đây là văn bản pháp lý quan trọng hướng dẫn chi tiết việc áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình cùng các văn bản liên quan trong quá trình giải quyết các vụ việc thực tế tại Tòa án.

- Phạm vi điều chỉnh và Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn (Điều 1 và Điều 2)

Nghị quyết hướng dẫn cụ thể về phạm vi điều chỉnh đối với các vụ việc hôn nhân và gia đình, đặc biệt làm rõ các khái niệm liên quan đến quyền yêu cầu ly hôn của người chồng khi vợ đang mang thai hoặc nuôi con nhỏ:

  • Khái niệm "Đang có thai": Được xác định là khoảng thời gian người vợ mang trong mình bào thai (được cơ sở y tế có thẩm quyền xác định) cho đến thời điểm sinh con hoặc thời điểm đình chỉ thai nghén.
  • Khái niệm "Sinh con": Bao gồm các trường hợp vợ đã sinh con nhưng không nuôi con trong khoảng thời gian từ khi sinh đến khi con dưới 12 tháng tuổi; vợ đã sinh con nhưng con chết trong khoảng thời gian dưới 12 tháng tuổi kể từ khi sinh; hoặc trường hợp vợ có thai từ 22 tuần tuổi trở lên mà phải đình chỉ thai nghén.
  • Hạn chế quyền ly hôn của người chồng: Người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong khoảng thời gian dưới 12 tháng tính từ ngày vợ sinh con hoặc ngày đình chỉ thai nghén. Quy định này áp dụng tuyệt đối, không phân biệt người vợ mang thai, sinh con với ai, và không phân biệt con đẻ hay con nuôi (đối với trường hợp nuôi con dưới 12 tháng tuổi).
  • Trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo: Chồng của người mang thai hộ không được yêu cầu ly hôn khi vợ đang mang thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Đối với chồng của người nhờ mang thai hộ, quyền yêu cầu ly hôn cũng bị hạn chế khi vợ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi hoặc khi người mang thai hộ đang mang thai, sinh con, nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

- Quy định về thuận tình ly hôn (Điều 3)

Nghị quyết làm rõ các điều kiện để công nhận thuận tình ly hôn theo Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình:

  • Sự đồng thuận của vợ chồng: Được thể hiện qua việc cả hai cùng ký vào đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản; hoặc một bên khởi kiện ly hôn nhưng bên kia đồng ý ly hôn và hai bên tự thỏa thuận được về việc nuôi con, chia tài sản.
  • Yêu cầu đối với thỏa thuận: Các thỏa thuận về tài sản, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con phải bảo đảm không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Thỏa thuận chia tài sản bao gồm cả trường hợp hai bên thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản.
  • Đối tượng con được chăm sóc: Việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục áp dụng đối với con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

- Ly hôn theo yêu cầu của một bên (Điều 4)

Hướng dẫn chi tiết các căn cứ để giải quyết ly hôn đơn phương theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình:

  • Hành vi bạo lực gia đình: Được xác định theo các hành vi quy định tại khoản 1 Điều 3 của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình.
  • Vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ: Là các hành vi vi phạm quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng dẫn đến xâm phạm nghiêm trọng lợi ích của đối phương (ví dụ như hành vi phá tán tài sản gia đình).
  • Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài: Được xác định khi không còn tình nghĩa vợ chồng (ly thân, bỏ mặc nhau, không thương yêu, chăm sóc nhau); có quan hệ ngoại tình; có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín hoặc gây thương tích cho nhau; không bảo đảm sự bình đẳng hoặc không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau.

- Hạn chế phân chia di sản của vợ, chồng khi một bên chết (Điều 5)

Nghị quyết hướng dẫn cụ thể về trường hợp hạn chế phân chia di sản theo khoản 3 Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình và Điều 661 Bộ luật Dân sự:

  • Tiêu chí xác định ảnh hưởng nghiêm trọng: Việc chia di sản sẽ bị hạn chế nếu việc phân chia dẫn đến việc vợ hoặc chồng còn sống và gia đình rơi vào hoàn cảnh cực kỳ khó khăn như không còn chỗ ở hoặc mất đi nguồn tư liệu sản xuất duy nhất.
  • Ví dụ thực tế: Trường hợp căn nhà duy nhất có diện tích nhỏ không thể chia bằng hiện vật, người vợ/chồng còn sống và con nhỏ không có chỗ ở khác và không có khả năng tài chính để thanh toán phần thừa kế bằng tiền cho các đồng thừa kế khác thì việc phân chia di sản sẽ bị hạn chế để bảo đảm cuộc sống cho họ.

- Giải quyết việc nuôi con khi ly hôn (Điều 6)

Đây là nội dung định hướng cho Tòa án khi quyết định giao quyền nuôi con nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của trẻ em:

  • Đánh giá quyền lợi về mọi mặt của con: Tòa án phải xem xét toàn diện các yếu tố bao gồm điều kiện chăm sóc, giáo dục của cha mẹ (gồm cả khả năng bảo vệ con khỏi bị xâm hại, bóc lột); quyền được sống chung với người trực tiếp nuôi và duy trì liên lạc với người còn lại; sự gắn bó tình cảm; sự ổn định môi trường sống; nguyện vọng của con được ở cùng anh chị em và nguyện vọng sống chung với cha hoặc mẹ.
  • Quy trình lấy ý kiến của con từ đủ 07 tuổi trở lên: Phải bảo đảm tính thân thiện, phù hợp với tâm lý lứa tuổi; tuyệt đối không lấy ý kiến trước mặt cha, mẹ nhằm tránh áp lực tâm lý và không được ép buộc, gây căng thẳng cho con.
  • Trường hợp mẹ không đủ điều kiện nuôi con dưới 36 tháng tuổi: Người mẹ bị coi là không đủ điều kiện nếu mắc bệnh hiểm nghèo/bệnh nặng không thể tự chăm sóc bản thân hoặc con; có thu nhập hàng tháng thấp hơn một nửa mức lương tối thiểu vùng tại nơi cư trú và không có tài sản khác; hoặc không có quỹ thời gian tối thiểu để chăm sóc con. Tuy nhiên, nếu điều kiện của người cha cũng không tốt hơn người mẹ thì Tòa án vẫn quyết định giao con cho người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng.

- Nghĩa vụ cấp dưỡng cho con (Điều 7)

Nghị quyết đưa ra các nguyên tắc giải quyết tranh chấp và xác định mức cấp dưỡng:

  • Trường hợp không yêu cầu cấp dưỡng: Tòa án có trách nhiệm giải thích quyền lợi của con. Nếu người trực tiếp nuôi con tự nguyện từ chối và có đủ khả năng nuôi dưỡng thì Tòa án ghi nhận và không buộc bên kia cấp dưỡng.
  • Mức cấp dưỡng: Do các bên thỏa thuận dựa trên chi phí nuôi dưỡng, học tập của con. Nếu không thỏa thuận được, Tòa án quyết định dựa trên thu nhập thực tế của người có nghĩa vụ và nhu cầu thiết yếu của con, nhưng mức tối thiểu không được thấp hơn một nửa (1/2) mức lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng cư trú cho mỗi người con.
  • Thời điểm phát sinh nghĩa vụ: Tính từ thời điểm cha, mẹ không sống chung với con hoặc sống chung nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con (trừ trường hợp có thỏa thuận khác).

- Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên (Điều 8)

Hướng dẫn chi tiết việc áp dụng Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình về việc hạn chế quyền của cha mẹ:

  • Các hành vi dẫn đến bị hạn chế quyền: Bị kết án cố ý về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của con; vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng (như bỏ mặc con tự sinh sống dẫn đến phạm pháp); phá tán tài sản của con; có lối sống đồi trụy (như hoạt động mại dâm); xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội.
  • Các biện pháp hạn chế: Tòa án có thể quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con; không cho quản lý tài sản của con; hoặc không cho đại diện theo pháp luật cho con tùy thuộc vào hành vi vi phạm cụ thể.
  • Rút ngắn thời hạn hạn chế: Được xem xét nếu cha, mẹ đã chấp hành được một phần hai (1/2) thời hạn hạn chế và trong thời gian đó không có thêm hành vi vi phạm nào.

- Thẩm quyền giải quyết, thủ tục tố tụng đặc thù và Án phí (Điều 9, Điều 10 và Điều 11)

Nghị quyết tháo gỡ nhiều vướng mắc về mặt tố tụng và chi phí giải quyết vụ án:

  • Xác định thẩm quyền: Đối với vụ án có tranh chấp bất động sản nhưng nơi cư trú của đương sự và nơi có đất khác nhau thì thẩm quyền thuộc về Tòa án nơi cư trú, làm việc của bị đơn hoặc nguyên đơn theo quy định chung của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trường hợp cha mẹ ở nước ngoài tranh chấp thay đổi người nuôi con mà con đang ở Việt Nam thì thuộc thẩm quyền của Tòa án Việt Nam.
  • Giải quyết ly hôn vắng mặt bị đơn ở nước ngoài không rõ địa chỉ: Nếu người thân thích ở trong nước cố tình giấu địa chỉ của bị đơn (không cung cấp sau 2 lần Tòa án yêu cầu), Tòa án sẽ tiếp tục giải quyết xét xử vắng mặt theo thủ tục chung. Sau khi xét xử, Tòa án gửi bản án cho người thân thích và tiến hành niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của bị đơn để bảo đảm quyền kháng cáo.
  • Quy định về án phí ly hôn:
    • Tranh chấp xác định cha, mẹ cho con phải chịu án phí theo quy định, trừ trường hợp xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.
    • Nếu thuận tình ly hôn trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, các đương sự chỉ phải chịu 50% mức án phí quy định (mỗi bên chịu 25%).
    • Nếu thuận tình ly hôn tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự phải chịu 100% mức án phí (mỗi bên chịu 50%).
    • Trường hợp tự nguyện ly hôn trước phiên tòa nhưng vẫn tranh chấp về con chung hoặc tài sản và phải để Tòa án xét xử ra bản án, đương sự chịu 50% án phí đối với yêu cầu ly hôn (mỗi bên 25%), còn án phí tài sản chịu tương ứng với phần tài sản được chia.

- Hiệu lực thi hành (Điều 12)

Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2024. Các quy định trong văn bản này là căn cứ pháp lý thống nhất để các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp áp dụng trong quá trình xét xử các vụ việc về hôn nhân và gia đình trên toàn quốc.

infoNội dung văn bản này đang cập nhật

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số:      /2022/NQ-HĐTP

Hà Nội, ngày     tháng    năm 2022

DỰ THẢO

 

 

NGHỊ QUYẾT

HƯỚNG DẪN MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Căn cứ Luật Tổ chức Tòa án nhân dân ngày 24 tháng 11 năm 2014;

Căn cứ Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 ngày 19 tháng 6 năm 2014;

Căn cứ Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015;

Để áp dụng đúng và thống nhất các quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình;

Sau khi có ý kiến của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị quyết này hướng dẫn một số vấn đề về giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 ngày 19 tháng 6 năm 2014; Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015.

Điều 2. Căn cứ cho ly hôn

1. Tòa án công nhận thuận tình ly hôn đối với trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:

a) Hai bên tự nguyện ly hôn;

b) Đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con.

2. Trường hợp thuận tình ly hôn thông qua hòa giải, đối thoại tại Tòa án thì Tòa án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải, đối thoại theo quy định của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

3. Toà án quyết định cho ly hôn theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình khi có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Bạo lực gia đình bao gồm bạo lực vật chất, như: Vợ, chồng thường xuyên đánh đập, ngược đãi, hành hạ làm cho người bị ngược đãi, hành hạ bị thương tích, tổn hại đến sức khỏe; bạo lực tinh thần như: lăng mạ, sỉ nhục, xâm phạm danh dự, nhân phẩm và uy tín khiến người bị ngược đãi bị tổn thất về danh dự, đau khổ về tinh thần.

4. Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

Vợ, chồng đánh đập, ngược đãi, hành hạ làm cho người bị ngược đãi, hành hạ luôn bị giày vò về mặt tình cảm, bị tổn thất về danh dự, đau khổ về tinh thần hoặc bị thương tích, tổn hại đến sức khỏe mà chưa đến mức xử lý về hình sự hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính đã được những người họ hàng của bên vợ và chồng hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở,.

Vợ, chồng không chung thủy với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

5. Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại khoản 2, khoản 3 Điều này. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

6. Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống.

Điều 3. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Cha, mẹ, con đã thành niên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác là cha, mẹ; ông, bà ruột, anh ruột, chị ruột, em ruột, con thành niên của người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

Điều 4. Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích xin ly hôn

1. Người vợ hoặc người chồng đồng thời yêu cầu Toà án tuyên bố người chồng hoặc người vợ của mình mất tích và yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn. Trong trường hợp này nếu Toà án tuyên bố người đó mất tích thì giải quyết cho ly hôn; nếu Toà án thấy chưa đủ điều kiện tuyên bố người đó mất tích thì bác các yêu cầu của người vợ hoặc người chồng.

2. Người vợ hoặc người chồng đã bị Toà án tuyên bố mất tích theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan. Sau khi bản án của Toà án tuyên bố người vợ hoặc người chồng mất tích đã có hiệu lực pháp luật thì người chồng hoặc người vợ của người đó có yêu cầu xin ly hôn với người đó. Trong trường hợp này Toà án giải quyết cho ly hôn.

3. Khi Toà án giải quyết cho ly hôn với người tuyên bố mất tích thì cần chú ý giải quyết việc quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích theo quy định tại Điều 69 của Bộ luật Dân sự.

Điều 5. Về thỏa thuận nuôi con

1. Khi giải quyết vụ án ly hôn nếu vợ chồng không thỏa thuận được về người trực tiếp nuôi con chung thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng, nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con. Tòa án cân nhắc ý kiến của con và đưa ra quyết định, căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con để giao con cho người kia có điều kiện nuôi con tốt hơn trực tiếp nuôi dưỡng. Việc không lấy được ý kiến của các con không phải là căn cứ để đình chỉ hay tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Trường hợp lợi ích của trẻ em xung đột với lợi ích của bố mẹ thì ưu tiên bảo đảm lợi ích của con.

2. Khi xem xét quyền lợi mọi mặt của con thì Tòa án dựa vào đánh giá tổng hợp dựa theo các tiêu chí sau: Ý kiến của con; Quyền của trẻ được sống chung với người trực tiếp nuôi hoặc được duy trì mối quan hệ với người cha, mẹ không trực tiếp nuôi; mối quan hệ của trẻ với từng người cha hoặc mẹ; khả năng của cha, mẹ trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con bao gồm cả khả năng bảo vệ trẻ khởi bị xâm hại, sao nhãng, bóc lột; mối quan tâm, chia sẻ của con; sự ổn định, liên tục và giảm thiểu sự xáo trộn với môi trường sống và giáo dục của trẻ; mong muốn của anh, chị, em (nếu có) được ở cùng nhau; ưu tiên giao tất cả các con cho một bên cha, mẹ trực tiếp nuôi dưỡng để bảo đảm ổn định tâm lý và tình cảm của trẻ em.

3. Việc lấy ý kiến của trẻ chưa thành niên cần bảo đảm các yêu cầu sau:

a) Đảm bảo sự thân thiện và cách thức lấy ý kiến phù hợp để trẻ em có thể bày tỏ đúng và đầy đủ ý kiến của mình; phải lấy ý kiến trẻ em tại Phòng họp riêng mà không có sự tham gia của cha, mẹ để tránh gây áp lực tâm lý cho trẻ em.

Trường hợp cần thiết thì có thể mời cán bộ bảo vệ trẻ em cấp xã tham gia để trẻ em thêm tự tin khi bày tỏ ý kiến.

b) Không ép buộc trẻ em bày tỏ ý kiến; đồng thời không gây áp lực, căng thẳng cho trẻ em khi bày tỏ ý kiến;

c) Cân nhắc ý kiến của trẻ em một cách phù hợp theo độ tuổi và mức độ trưởng thành của trẻ em để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em.

4. Để hỗ trợ xây dựng đánh giá tổng quan theo khoản 2, Toà án cần, theo quy định tại khoản 2 và 3 Điều 72 Luật Trẻ em năm 2016, yêu cầu cán bộ bảo vệ trẻ em cấp xã tìm hiểu và cung cấp thông tin về tình trạng cá nhân và gia đình của đứa trẻ để đưa ra quyết định phù hợp.  

Điều 6. Cấp dưỡng nuôi con

Tiền cấp dưỡng nuôi con bao gồm những chi phí cho việc nuôi dưỡng và học hành của con và do các bên thoả thuận. Trong trường hợp các bên không thoả thuận được thì Tòa án quyết định mức cấp dưỡng ít nhất bằng 2/3 mức lương cơ sở không được thấp hơn 30% mức thu nhập bình quân của người có nghĩa vụ cấp dưỡng trong 06 tháng liền kề.

Điều 7. Phương thức cấp dưỡng nuôi con

Phương thức cấp dưỡng do các bên thoả thuận định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần. Trường hợp các bên không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định phương thức cấp dưỡng hàng tháng hoặc phương thức khác phù hợp với nhu cầu, lợi ích của con và điều kiện của người cấp dưỡng.

Điều 8. Hiệu lực của việc cấp dưỡng nuôi con

Thời điểm cấp dưỡng nuôi con thực hiện theo thỏa thuận của các bên. Nếu các bên không có thỏa thuận thì thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày Tòa án ra bản án, quyết định.

Điều 9. Nghĩa vụ chung về tài sản chung của vợ chồng

1. Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình theo quy định tại khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình.

2. Nhu cầu thiết yếu là nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình.

Điều 10. Việc định đoạt tài sản riêng của vợ chồng

1. Trường hợp tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng riêng của vợ hoặc chồng đưa vào quản lý, sử dụng chung nếu tài sản sau quá trình được đưa vào quản lý, sử dụng mà giá trị tài sản đó tăng lên so với lúc đầu thì vợ, chồng phải chứng minh việc tăng lên này. Nếu việc tăng giá trị chứng minh được là từ tài sản riêng của chủ sở hữu, chủ sử dụng thì việc định đoạt tài sản không cần người vợ hoặc người chồng còn lại đồng ý. Ngược lại, nếu không chứng minh việc tăng giá trị tài sản từ tài sản riêng của chủ sở hữu, chủ sử dụng thì việc định đoạt cần phải có sự đồng ý của hai vợ chồng.

2. Trường hợp tài sản riêng của vợ, chồng phát sinh hoa lợi, lợi tức mà hoa lợi, lợi tức đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó cần sự đồng ý của vợ, chồng.

Điều 11. Hiệu lực thỏa thuận xác lập chế độ tài sản chung vợ chồng

1. Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận có hiệu lực kể từ ngày đăng ký kết hôn.

2. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận, sửa đổi, bổ sung một phần hoặc toàn bộ nội dung chế độ tài sản đó hoặc áp dụng chế độ tài sản theo luật định. Thỏa thuận sửa đổi sung chế độ tài sản của vợ chồng phải được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật.

Điều 12. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng

Trường hợp Tòa án giải quyết phân chia tài sản chung của vợ chồng trong vụ án ly hôn nếu thấy thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng vi phạm khoản 1 Điều 50 của Luật Hôn nhân và gia đình thì Tòa án có quyền tuyên bố thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu.

Điều 13. Chia tài sản chung vợ chồng liên quan đến người thứ ba

Trong vụ án ly hôn, khi giải quyết yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng mà đương sự (nguyên đơn hoặc bị đơn) có yêu cầu giải quyết quyền, nghĩa vụ về tài sản đối với người thứ ba nhưng Tòa án triệu tập người thứ ba đến thì người thứ ba không yêu cầu giải quyết, nguyên đơn và bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu thì Tòa án vẫn giải quyết quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng với người thứ ba.

Trường hợp này, trong bản án, Tòa án phải ghi nhận quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ, chồng là chung hay riêng và giành quyền khởi kiện cho người thứ ba trong một vụ án khác.

Điều 14. Thẩm quyền giải quyết của Tòa án trong vụ án hôn nhân và gia đình

1. Vụ án hôn nhân và gia đình nguyên đơn và bị đơn đều có cùng nơi cư trú hoặc có nơi cư trú khác nhau nhưng tài sản tranh chấp là bất động sản ở một nơi khác thì thì thẩm quyền giải quyết của Tòa án được xác định như sau:

a) Vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn mà nguyên đơn và bị đơn đều cư trú ở hai nơi khác nhau, tài sản là bất động sản lại ở nơi khác thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc.

b) Trường hợp các đương sự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn thì Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn có thẩm quyền giải quyết.

2. Trường hợp vụ án tranh chấp chia tài sản là bất động sản sau khi ly hôn mà nơi cư trú của bị đơn và nơi có bất động sản tranh chấp khác nhau thì Tòa án  có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điều 15. Việc cung cấp địa chỉ của nguyên đơn

1. Trường hợp người Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với người Việt Nam ở nước ngoài và chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của bị đơn mà không cung cấp được địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài, nếu thông qua thân nhân của bị đơn mà có căn cứ bị đơn vẫn có liên hệ với thân nhân ở trong nước nhưng thân nhân của họ không cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Tòa án cũng như không thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho bị đơn biết để gửi lời khai về cho Tòa án thì coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết.

2. Nếu Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Tòa án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Tòa án thông báo cho bị đơn biết thì Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

Điều 16. Hiệu lực thi hành

1. Nghị quyết này đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày .... tháng ..... năm 2021 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày ... tháng .... năm 2021.

2. Trong quá trình thực hiện nếu có vướng mắc, đề nghị phản ánh cho Tòa án nhân dân tối cao (thông qua Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học) để hướng dẫn bổ sung kịp thời.

 

 

Nơi nhận:
- Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;
- Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội;
- Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội;
- Ban Chỉ đạo CCTPTW;
- Ban Nội chính Trung ương;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Văn phòng Chính phủ (02 bản);
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Bộ Tư pháp;
- Các TAND và TAQS;
- Các Thẩm phán TANDTC;
- Các đơn vị thuộc TANDTC;
- Cổng TTĐT TANDTC (để đăng tải);
- Lưu: VT, Vụ PC&QLKH (TANDTC).

TM. HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN
CHÁNH ÁN




Nguyễn Hòa Bình

 

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành

Số hiệu: 01/2024/NQ-HĐTP
Loại văn bản: Nghị quyết
Ngày ban hành: 16/05/2024
Nơi ban hành: Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
Người ký: Nguyễn Hòa Bình
Ngày công báo: 08/06/2024
Số công báo: Từ số 697 đến số 698
Ngày hiệu lực: 01/07/2024
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Thủ tục Tố tụng
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký