Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga ký kết năm 1991 là văn kiện pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc duy trì, củng cố và phát triển quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại song phương. Dưới đây là phần tóm tắt chi tiết và phân tích chuyên sâu toàn bộ nội dung cốt lõi của Hiệp định này.
- Thông tin tổng quan về văn bản
- Tên văn bản: Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Xô viết Liên bang Nga (1991).
- Ngày ký ban hành: Ngày 15 tháng 08 năm 1991 tại Matxcơva.
- Ngôn ngữ văn bản: Được lập thành hai bản bằng tiếng Việt và tiếng Nga, cả hai văn bản đều có giá trị pháp lý ngang nhau.
- Hiệu lực: Có hiệu lực kể từ ngày ký và tiếp tục có hiệu lực cho đến khi một trong hai bên thông báo chấm dứt bằng văn bản trước ít nhất 06 tháng.
- Nguyên tắc thiết lập và phát triển quan hệ thương mại (Điều 1, Điều 2, Điều 3)
- Cơ sở giao dịch: Việc giao dịch hàng hóa và cung ứng dịch vụ được thực hiện thông qua các hợp đồng kinh tế ký kết trực tiếp giữa các thành viên được ủy quyền hợp lệ của hai nước để tiến hành hoạt động kinh tế đối ngoại.
- Phương thức thanh toán: Áp dụng thanh toán bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi, tính toán theo thời giá thị trường thế giới và tuân thủ các điều kiện thông lệ trong thương mại quốc tế.
- Danh mục định hướng: Hai bên có thể cùng nhau lập ra các danh mục định hướng về khối lượng, chủng loại hàng hóa và dịch vụ ưu tiên hàng đầu để duy trì mối quan hệ kinh tế cần thiết, tuy nhiên danh mục này không mang tính chất hạn chế.
- Tạo điều kiện thuận lợi: Cam kết xây dựng các hành lang pháp lý, kinh tế, tài chính thuận lợi nhằm thúc đẩy đa dạng hình thức hợp tác như: thiết lập quan hệ trực tiếp, thành lập xí nghiệp liên doanh, chuyên môn hóa và hợp tác hóa sản xuất, cũng như các nghiệp vụ đổi hàng (trao đổi hàng hóa).
- Chế độ tối huệ quốc (MFN): Hai bên dành cho nhau chế độ tối huệ quốc đối với tất cả các vấn đề liên quan đến hợp tác kinh tế và thương mại song phương.
- Cấp phép xuất nhập khẩu: Các cơ quan có thẩm quyền của hai nước cam kết kịp thời cấp giấy phép xuất nhập khẩu trong phạm vi thẩm quyền đối với các hợp đồng đã ký kết khi có yêu cầu pháp lý.
- Quy định về kiểm soát tái xuất khẩu hàng hóa (Điều 4)
- Hàng hóa được giao dịch trong khuôn khổ Hiệp định này chỉ được phép tái xuất sang nước thứ ba khi có sự đồng ý trước bằng văn bản từ phía người xuất khẩu. Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi thương mại và tránh các tranh chấp phát sinh ngoài tầm kiểm soát của các bên ký kết.
- Định hướng hợp tác dài hạn trong các lĩnh vực trọng điểm (Điều 5)
- Hai bên thống nhất tiếp tục duy trì và phát triển mối quan hệ hợp tác đã hình thành thông qua các chương trình dài hạn có mục tiêu cụ thể. Các lĩnh vực ưu tiên bao gồm tổ hợp nông công nghiệp, sản xuất hàng công nghiệp nhẹ và các ngành công nghiệp phụ trợ khác.
- Cơ chế thanh toán và vai trò của hệ thống ngân hàng (Điều 6)
- Các ngân hàng được ủy quyền của Việt Nam và Xô viết Liên bang Nga có trách nhiệm chủ động gặp gỡ và thỏa thuận về thể thức kỹ thuật thanh toán. Thời hạn thực hiện việc thỏa thuận này là trong vòng 01 tháng kể từ ngày Hiệp định chính thức có hiệu lực, nhằm đảm bảo cơ sở hạ tầng tài chính thông suốt cho các hoạt động kinh tế đối ngoại.
- Cơ chế giám sát thông qua Ủy ban hỗn hợp (Điều 7)
- Thành lập Ủy ban: Thành lập một Ủy ban hỗn hợp bao gồm đại diện của cả hai nước Việt Nam và Xô viết Liên bang Nga.
- Chức năng nhiệm vụ: Ủy ban có nhiệm vụ theo dõi, xem xét tiến trình thực hiện các điều khoản trong Hiệp định, đồng thời nghiên cứu và soạn thảo các khuyến nghị, giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - thương mại song phương.
- Cơ chế hoạt động: Ủy ban hỗn hợp sẽ tổ chức các phiên họp luân phiên tại Việt Nam và Xô viết Liên bang Nga theo sự thỏa thuận thống nhất giữa hai bên.
- Giải quyết tranh chấp phát sinh (Điều 8)
- Mọi bất đồng, tranh chấp phát sinh liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng các điều khoản của Hiệp định này sẽ được hai bên ưu tiên giải quyết một cách hòa bình thông qua con đường thương lượng trực tiếp.
- Hiệu lực thi hành và điều khoản chuyển tiếp (Điều 9)
- Hiệu lực bắt đầu: Hiệp định chính thức phát sinh hiệu lực kể từ ngày ký (ngày 15 tháng 08 năm 1991).
- Chấm dứt hiệu lực: Hiệp định duy trì hiệu lực vô thời hạn cho đến khi một trong hai bên gửi thông báo bằng văn bản cho bên kia về ý định chấm dứt Hiệp định. Thông báo này phải được gửi trước thời điểm chấm dứt dự kiến ít nhất 06 tháng.
- Điều khoản chuyển tiếp bảo hộ hợp đồng: Trong trường hợp Hiệp định hết hiệu lực, các điều khoản quy định tại đây vẫn tiếp tục được áp dụng đối với tất cả các hợp đồng kinh tế đã được ký kết trong thời gian Hiệp định có hiệu lực nhưng chưa hoàn thành nghĩa vụ thực hiện tại thời điểm chấm dứt.
HIỆP ĐỊNH
GIỮA CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA XÔ VIẾT LIÊN BANG NGA (1991)
Chính phủ Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chính phủ Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga, dưới đây gọi tắt là các Bên ký kết,
Nhằm mục đích củng cố và phát triển hợp tác quốc tế – Thương mại giữa Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Liên bang Nga,
Tuân thủ các nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi và các tiêu chuẩn của luật pháp quốc tế trong khi thực hiện các mối quan hệ kinh tế với nhau,
Đã thảo luận về những điều sau đây :
Điều 1. Các bên ký kết sẵn sàng thiết lập và phát triển các mối quan hệ kinh tế- thương mại cùng có lợi.
Việc giao hàng hoá và cung ứng dịch vụ cho nhau sẽ được thực hiện trên cơ sở hợp đồng được ký kết giữa các thành viên Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô Viết Liên bang Nga được uỷ quyền một cách hợp lệ để tiến hành hoạt động kinh tế đối ngoại.
Việc thanh toán và trả tiền trong buôn bán với nhau sẽ được thực hiện bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi, theo thời giá thế giới và với những điều kiện được áp dụng trong thương mại quốc tế.
Để duy trì các mối quan hệ kinh tế – thương mại đã hình thành và cần thiết cho các Bên ký kết, các Bên có thể lập các danh mục định hướng bao gồm khối lượng và danh mục hàng hoá và dịch vụ có tầm quan trọng hàng đầu, và không mang tính chất hạn chế.
Điều 2.
Các Bên ký kết sẽ tạo những điều kiện pháp ký, kinh tế, tài chính và các điều kiện cần thiết khác để duy trì và phát triển các hình thức quan hệ kinh tế thương mại giữa các thành viên quan hệ kinh tế đối ngoại Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Liên bang Nga, bao gồm quan hệ trực tiếp, xí nghiệp liên doanh, chuyên môn hoá và hợp tác hoá sản xuất, các dịch vụ trao đổi hàng hoá (đổi hàng).
Điều 3. Các Bên ký kết sẽ hỗ trợ sự phát triển buôn bán với nhau trên cơ sở thực tiễn và nguyên tắc được áp dụng trong mậu dịch quốc tế.
Các Bên ký kết sẽ dành cho nhau chế độ tối huệ quốc về tất cả các vấn đề hợp tác kinh tế – thương mại.
Các cơ quan được uỷ quyền của các Bên ký kết sẽ kịp thời cấp giấy phép trong khuôn khổ thẩm quyền của mình cho việc giao hàng theo các hợp đồng được ký kết giữa các thành viên quan hệ kinh tế đối ngoại Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga, trong những trường hợp cần phải có giấy phép.
Điều 4. Hàng hoá giao thiệp theo Hiệp định này chỉ được tái xuất sang nước thứ ba khi có sự đồng ý trước bằng văn bản của người xuất khẩu.
Điều 5. Các Bên ký kết thoả thuận sẽ tiếp tục sự hợp tác đã hình thành theo các chương trình dài hạn có mục tiêu trong lĩnh vực tổ hợp nông công nghiệp và sản xuất hàng công nghiệp nhẹ và các lĩnh vực khác.
Điều 6. Các ngân hàng được ủy quyền của Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga trong thời hạn một tháng kể từ ngày Hiệp định này có hiệu lực sẽ thoả thuận thể thức kỹ thuật thanh toán và trả tiền cần thiết cho các nghiệp vụ kinh tế đối ngoại được thực hiện phù hợp với hiệp định này.
Điều 7. Các Bên ký kết sẽ thành lập Uỷ ban hỗn hợp gồm đại diện của Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô Viết Liên bang Nga để xem xét quá trình thực hiện Hiệp định này và soạn thảo các khuyến nghị về những biện pháp phát triển kinh tế thương mại.
Uỷ ban hỗn hợp này theo sự thoả thuận lẫn nhau, sẽ họp luân phiên tại Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga.
Điều 8. Mọi tranh chấp về cách giải thích về vận dụng Hiệp đinh này sẽ được giải quyết bằng con đường thương lượng.
Điều 9. Hiệp định này có hiệu lực kể từ ngày ký và sẽ tiếp tục có hiệu lực cho đến khi một trong các Bên ký kết thông báo bằng văn bản cho Bên kia không chậm hơn trước 6 tháng, về ý định của mình muốn chấm dứt hiệu lực của Hiệp định này.
Sau khi Hiệp định này hết hiệu lực, các điều khoản của Hiệp định này vẫn được tiếp tục áp dụng cho tất cả các hợp đồng, mà nghĩa vụ của những hợp đồng đó phát sinh trong thời kỳ Hiệp định có hiệu lực, nhưng chưa được thực hiện hết vào thời điểm hết hiệu lực.
Làm tại Matxcơva, ngày 15 tháng 8 năm 1991 bằng 2 văn bản, một bản tiếng Việt, một bản tiếng Nga, cả hai văn bản có giá trị ngang nhau.
| THAY MẶT CHÍNH PHỦ | THAY MẶT CHÍNH PHỦ |
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.
Danh sách văn bản liên quan đang được cập nhật.