Giới thiệu chung về Hiệp định
Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư lẫn nhau giữa Việt Nam và Đức được ký kết tại Hà Nội ngày 03 tháng 04 năm 1993. Đây là một văn bản pháp lý quốc tế quan trọng đặt nền móng cho quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư song phương. Hiệp định thiết lập các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế nhằm bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư mỗi nước trên lãnh thổ của nước kia, đồng thời tạo ra môi trường đầu tư minh bạch, an toàn và bình đẳng.
1. Các định nghĩa cốt lõi (Điều 1 và Nghị định thư)
Hiệp định đưa ra các định nghĩa pháp lý nền tảng để xác định phạm vi áp dụng đối với đối tượng và chủ thể đầu tư:
- Thuật ngữ "đầu tư": Bao gồm tất cả các giá trị tài sản, cụ thể là: động sản, bất động sản và các quyền sở hữu hiện vật khác (cầm cố, thế chấp); cổ phần và các hình thức tham gia khác vào công ty; yêu sách về tiền hoặc dịch vụ có giá trị kinh tế; quyền sở hữu trí tuệ (quyền tác giả, bằng sáng chế, nhãn hiệu, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, quy trình kỹ thuật, bí quyết kỹ thuật - know-how); các quyền địa nhượng theo công pháp (bao gồm thăm dò và khai thác tài nguyên). Sự thay đổi hình thức đầu tư không làm ảnh hưởng đến tính chất đầu tư của tài sản.
- Thuật ngữ "thu nhập": Chỉ các khoản thu phát sinh từ đầu tư trong một khoảng thời gian nhất định như lợi nhuận, lãi cổ phần, lãi tiền vay, tiền bản quyền hoặc các khoản thanh toán khác. Theo Nghị định thư, thu nhập từ việc tái đầu tư cũng được hưởng sự bảo hộ như đối với khoản đầu tư ban đầu.
- Thuật ngữ "công dân": Đối với Việt Nam là thể nhân mang quốc tịch Việt Nam theo luật pháp Việt Nam; đối với Đức là người Đức theo Hiến pháp Đức. Nghị định thư làm rõ thêm rằng bất kỳ cá nhân nào có hộ chiếu quốc gia do cơ quan có thẩm quyền cấp sẽ được coi là công dân của Bên ký kết đó.
- Thuật ngữ "công ty": Đối với Việt Nam là bất kỳ pháp nhân nào thành lập theo luật pháp Việt Nam và có trụ sở tại Việt Nam; đối với Đức là bất kỳ công ty hoặc hiệp hội nào (có hoặc không có tư cách pháp nhân) có trụ sở tại Đức, không phân biệt mục đích hoạt động có lợi nhuận hay phi lợi nhuận.
2. Nguyên tắc khuyến khích và bảo hộ đầu tư (Điều 2, Điều 3 và Nghị định thư)
Hiệp định quy định các nghĩa vụ cơ bản của hai quốc gia trong việc đối xử với nhà đầu tư nước ngoài:
- Khuyến khích và cho phép đầu tư: Mỗi Bên ký kết cam kết khuyến khích và cho phép đầu tư của công dân, công ty Bên kia phù hợp với luật pháp nước mình. Đầu tư được bảo hộ đầy đủ và được hưởng sự đối xử công bằng, thỏa đáng trong mọi trường hợp.
- Không phân biệt đối xử: Nghiêm cấm các biện pháp tùy tiện hoặc phân biệt đối xử làm ảnh hưởng đến việc quản lý, chi dùng, sử dụng hoặc tận dụng khoản vốn đầu tư.
- Đối xử Quốc gia (NT) và Đối xử Tối huệ quốc (MFN): Mỗi Bên phải đối xử với các khoản đầu tư và hoạt động liên quan đến đầu tư của Bên kia không kém thuận lợi hơn so với đầu tư của công dân, công ty nước mình hoặc của bất kỳ nước thứ ba nào.
- Ngoại lệ đối với nguyên tắc đối xử: Sự đối xử ưu đãi không bao hàm các đặc quyền xuất phát từ việc tham gia liên minh thuế quan, liên minh kinh tế, thị trường chung, khu vực tự do thương mại hoặc các hiệp định tránh đánh thuế trùng.
- Làm rõ về "Hoạt động" (theo Nghị định thư): Hoạt động bao gồm quản lý và sử dụng đầu tư. Khi cho phép đầu tư, quốc gia tiếp nhận có thể quy định các điều kiện khác với công dân trong nước, nhưng sau khi đã ban hành, không được thay đổi các điều kiện này theo hướng gây bất lợi cho nhà đầu tư. Các biện pháp bảo vệ trật tự, an toàn công cộng, sức khỏe nhân dân hoặc phong tục tập quán không bị coi là đối xử kém thuận lợi hơn.
- Tạo điều kiện cư trú và làm việc: Hai Bên cam kết xét duyệt thiện chí các đơn xin nhập cảnh, cư trú và cấp giấy phép làm việc cho nhà đầu tư và người lao động liên quan đến dự án đầu tư.
3. Chế độ bảo hộ tài sản và bồi thường thiệt hại (Điều 4 và Nghị định thư)
Đây là nội dung cốt lõi nhằm bảo vệ nhà đầu tư trước các rủi ro phi thương mại:
- Bảo hộ an toàn đầy đủ: Đầu tư của công dân, công ty mỗi Bên được hưởng sự bảo hộ và an toàn đầy đủ trên lãnh thổ Bên kia.
- Điều kiện trưng dụng, quốc hữu hóa: Việc trưng dụng, quốc hữu hóa hoặc các biện pháp tương đương chỉ được thực hiện vì mục đích công ích, theo trình tự pháp luật và phải được bồi thường.
- Nguyên tắc bồi thường: Khoản bồi thường phải tương ứng với giá trị thực tế của phần đầu tư bị trưng dụng ngay trước thời điểm quyết định được công bố chính thức. Khoản bồi thường phải được thanh toán ngay, chịu lãi suất ngân hàng thông thường cho đến ngày thanh toán, có giá trị sử dụng thực tế và được tự do chuyển đổi. Tính hợp pháp của việc trưng dụng và mức bồi thường phải được quyền kiểm tra lại theo trình tự tố tụng tư pháp.
- Can thiệp gián tiếp: Nghị định thư làm rõ quyền được bồi thường cũng phát sinh khi Nhà nước có các biện pháp can thiệp vào công ty là đối tượng đầu tư, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến giá trị kinh tế của công ty đó.
- Bồi thường thiệt hại do chiến tranh, bạo loạn: Nhà đầu tư bị thiệt hại do chiến tranh, xung đột vũ trang, cách mạng, tình trạng khẩn cấp hoặc nổi loạn sẽ được đối xử không kém thuận lợi hơn so với công dân nước sở tại hoặc nước thứ ba trong việc hoàn trả, đền bù hoặc bồi thường. Các khoản bồi thường này phải được tự do chuyển đổi.
4. Tự do chuyển tiền ra nước ngoài (Điều 5, Điều 7 và Nghị định thư)
Hiệp định bảo đảm quyền tự do chuyển các khoản thanh toán liên quan đến đầu tư ra nước ngoài:
- Các khoản tiền được phép chuyển: Vốn và các khoản đóng góp thêm để duy trì/mở rộng đầu tư; thu nhập từ đầu tư; các khoản trả nợ vay; tiền thu từ thanh lý hoặc bán toàn bộ/một phần khoản đầu tư; các khoản bồi thường theo Điều 4.
- Thủ tục và tỷ giá chuyển tiền: Việc chuyển tiền được thực hiện không chậm trễ theo tỷ giá chính thức tương ứng (tỷ giá chéo "cross rate" dựa trên Quyền rút vốn đặc biệt - SDR của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF tại thời điểm chuyển). Nghị định thư quy định cụ thể thời hạn "không chậm trễ" là thời gian thông thường để làm thủ tục chuyển đổi, tính từ ngày nộp đơn và tối đa không quá 02 tháng.
- Hạn chế tạm thời của Việt Nam (Nghị định thư): Trong trường hợp gặp khó khăn đặc biệt về cán cân thanh toán, Chính phủ Việt Nam có thể giới hạn việc tự do chuyển thu nhập từ bán hoặc thanh lý đầu tư trong thời gian không quá 03 năm. Tuy nhiên, Việt Nam phải bảo đảm cho phép chuyển ít nhất 33 1/3% tổng số giá trị phải chuyển mỗi năm. Khoản tiền chưa được chuyển sẽ được ghi vào tài khoản ngoại tệ và tính lãi suất ngân hàng phổ biến.
5. Nguyên tắc thế quyền (Điều 6)
Nếu một Bên ký kết hoặc cơ quan được ủy quyền thực hiện thanh toán bồi thường cho nhà đầu tư của mình theo một hợp đồng bảo lãnh đầu tư trên lãnh thổ Bên kia, Bên kia phải thừa nhận việc chuyển giao toàn bộ các quyền và yêu sách của nhà đầu tư đó cho Bên bảo lãnh (nguyên tắc thế quyền). Bên bảo lãnh có quyền thực hiện các quyền và yêu sách này trong phạm vi tương tự như nhà đầu tư ban đầu.
6. Cơ chế giải quyết tranh chấp
Hiệp định thiết lập hai cơ chế giải quyết tranh chấp riêng biệt đối với tranh chấp giữa hai quốc gia và tranh chấp giữa quốc gia với nhà đầu tư:
Tranh chấp giữa hai Bên ký kết về giải thích hoặc áp dụng Hiệp định (Điều 10):
- Trước hết giải quyết thông qua thương lượng ngoại giao giữa hai Chính phủ.
- Nếu không giải quyết được, tranh chấp sẽ được đưa ra Tòa án trọng tài vụ việc (Ad-hoc) theo yêu cầu của một Bên.
- Mỗi Bên chỉ định 01 trọng tài viên trong vòng 02 tháng; hai trọng tài viên này thỏa thuận chọn một công dân nước thứ ba làm Chủ tịch Tòa án trọng tài trong vòng 03 tháng.
- Nếu các thời hạn trên không được tuân thủ, hai Bên có thể yêu cầu Chủ tịch Tòa án Quốc tế (ICJ) thực hiện việc chỉ định cần thiết.
- Tòa án trọng tài quyết định theo đa số phiếu, phán quyết có tính chất ràng buộc chung thẩm. Chi phí trọng tài được phân bổ đều giữa hai Bên trừ khi Tòa án có quyết định khác.
Tranh chấp giữa một Bên ký kết với nhà đầu tư của Bên kia (Điều 11):
- Trước hết giải quyết một cách ổn thỏa thông qua thương lượng giữa các bên tranh chấp.
- Nếu không giải quyết được trong vòng 06 tháng kể từ ngày phát sinh, nhà đầu tư có quyền đưa vụ tranh chấp ra giải quyết theo thủ tục trọng tài.
- Thủ tục trọng tài áp dụng tương tự cơ chế trọng tài giữa hai quốc gia (Điều 10), hoặc nhà đầu tư có thể yêu cầu Chủ tịch Tòa án trọng tài của Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) tại Paris thực hiện việc chỉ định trọng tài viên nếu các bên không có thỏa thuận khác. Phán quyết trọng tài được thi hành theo luật quốc gia.
- Nếu cả hai quốc gia đều là thành viên của Công ước Washington 1965 về giải quyết tranh chấp đầu tư (ICSID), tranh chấp sẽ được giải quyết theo thủ tục trọng tài của Công ước này.
7. Hiệu lực và thời hạn của Hiệp định (Điều 12, Điều 13)
- Quan hệ ngoại giao: Hiệp định vẫn có hiệu lực độc lập, không phụ thuộc vào việc giữa hai nước có duy trì quan hệ ngoại giao hoặc lãnh sự hay không.
- Phê chuẩn và có hiệu lực: Hiệp định phải được phê chuẩn và chính thức có hiệu lực sau 01 tháng kể từ ngày trao đổi văn kiện phê duyệt tại Bonn.
- Thời hạn hiệu lực: Hiệp định có hiệu lực ban đầu là 10 năm. Sau thời hạn này, Hiệp định mặc nhiên được gia hạn tiếp không hạn định, trừ khi một trong hai Bên thông báo bằng văn bản về việc chấm dứt Hiệp định trước 12 tháng. Sau thời hạn 10 năm đầu, mỗi Bên có quyền tuyên bố hủy Hiệp định bất kỳ lúc nào với thời hạn báo trước là 12 tháng.
- Điều khoản bảo lưu hiệu lực (Survival Clause): Đối với các khoản đầu tư được thực hiện trước ngày Hiệp định hết hiệu lực, các quy định từ Điều 1 đến Điều 12 vẫn tiếp tục có hiệu lực trong thời gian 20 năm tiếp theo kể từ ngày Hiệp định chấm dứt hiệu lực.
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Cộng Hòa Liên Bang Đức,
Với mong muốn tăng cường hợp tác kinh tế giữa hai nước,
Với mong muốn tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư của công dân hay công ty của nước này trên lãnh thổ của nước kia,
Nhận thức rằng việc khuyến khích và bảo hộ bằng Hiệp định các khoản đầu tư này là thích hợp để làm sống động các hoạt động kinh tế kể cả sáng kiến kinh tế tư nhân và tăng cường sự phồn thịnh của nhân dân hai nước,
Đã thỏa thuận như sau:
Điều 1. Theo mục đích của Hiệp định này
1. Thuật ngữ "đầu tư" bao gồm tất cả các giá trị tài sản, cụ thể là:
a) Sở hữu về động sản và bất động sản, cũng như các quyền sở hữu hiện vật khác như quyền cầm cố và thế chấp;
b) Cổ phần và các hình thức tham gia khác vào công ty;
c) Yêu sách về tiền được sử dụng để tạo ra giá trị kinh tế hoặc yêu sách về dịch vụ có giá trị kinh tế;
d) Các quyền sở hữu về trí tuệ, đặc biệt như quyền tác giả, patent, mẫu sử dụng, và mô hình vật dụng, nhãn hiệu, tên thương mại, bí quyết vận hành và kinh doanh, quy trình kỹ thuật, know-how và đặc quyền kế nghiệp;
e) Các địa nhượng theo công pháp, bao gồm cả địa nhượng về thăm dò và khai thác;
Sự thay đổi hình thức mà theo đó các giá trị tài sản được đầu tư, không làm ảnh hưởng đến tính chất của chúng là đầu tư.
2. Thuật ngữ "thu nhập" chỉ bất kỳ một khoản thu nào phát sinh từ việc đầu tư trong một khoảng thời gian nhất định như lợi nhuận, lãi cổ phần, lãi tiền vay, tiền bản quyền hay các khoản thanh toán khác.
3. Thuật ngữ "công dân" chỉ:
a) Về phía Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: những thể nhân mang quốc tịch Việt Nam phù hợp với các quy định của luật pháp Việt Nam;
b) Về phía Cộng hòa Liên bang Đức: người Đức theo tinh thần của Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức.
4. Thuật ngữ "công ty" chỉ:
a) Về phía Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: bất kỳ một pháp nhân nào được thành lập theo luật pháp Việt Nam và có trụ sở đặt trên lãnh thổ Việt Nam.
b) Về phía Cộng hòa Liên bang Đức: bất kỳ cũng như bất kỳ một công ty nào hay các công ty hay hiệp hội nào có hoặc không có tư cách pháp nhân, có trụ sở đặt tại Cộng hòa Liên bang Đức, không phân biệt mục đích hoạt động của các công ty trên là tạo ra hoặc không tạo ra lợi nhuận.
(2) Đầu tư của các công dân hoặc công ty của một Bên ký kết đã được phép thực hiện trên lãnh thổ của Bên ký kết kia phù hợp với luật pháp ở đó sẽ được Hiệp định này bảo hộ đầy đủ.
(3) Mỗi Bên ký kết hoàn toàn không tiến hành các biện pháp tùy tiện hay phân biệt đối xử làm ảnh hưởng đến việc quản lý, chi dùng, sử dụng hoặc tận dụng khoản vốn đầu tư của công dân hay công ty của Bên ký kết kia trên lãnh thổ nước mình.
(2) Đối với các hoạt động liên quan tới đầu tư trên lãnh thổ của mình, mỗi Bên ký kết đối xử với công dân hay công ty của Bên ký kết kia không kém thuận lợi hơn so với công dân và công ty của mình hay so với công dân và công ty nước thứ ba.
(3) Chỉ có các trường hợp nêu tại Nghị định thư kèm theo Hiệp định này mới được có ngoại lệ đối với các nguyên tắc của các khoản 1 và 2.
(4) Sự đối xử trên không bao hàm các đặc quyền mà mỗi Bên ký kết dành cho công dân hay công ty của nước thứ ba do việc nước này là thành viên hoặc liên kết với một liên minh thuế quan hay kinh tế, một thị trường chung hay một khu vực tự do thương mại.
(5) Sự đối xử nêu ở Điều này không bao hàm những ưu đãi mà một Bên ký kết dành cho công dân hay công ty của nước thứ ba trên cơ sở của Hiệp định không đánh thuế trùng hoặc các thỏa thuận khác về các vấn đề thuế.
(2) Đầu tư của công dân hay công ty của một Bên ký kết trên lãnh thổ của Bên ký kết kia chỉ bị trưng dụng, quốc hữu hóa hay chịu các biện pháp khác có tác động tự như trưng dụng hoặc quốc hữu hóa trong trường hợp phục vụ công ích và được bồi thường. Các khoản bồi thường phải tương ứng với giá trị của phần đầu tư bị trưng dụng vào thời điểm ngay trước khi thực sự hoặc bị đe doạ trưng dụng, quốc hữu hóa hoặc các biện pháp tương tự khác được công bố chính thức. Các khoản bồi thường phải được trả ngay và chịu lãi cho đến thời điểm thanh toán theo lãi suất thông thường của Ngân hàng; các khoản bồi thường phải thực sự có giá trị sử dụng và được tự do chuyển đổi. Chậm nhất là vào thời điểm tiến hành trưng dụng, quốc hữu hóa hay các biện pháp tương tự khác phải dự tính một cách thích hợp về việc xác định và thực hiện các khoản bồi thường. Tính hợp pháp của việc trưng dụng, quốc hữu hóa hay của các biện pháp tương tự khác và mức bồi thường phải có thể được kiểm tra lại theo một trình tự tố tụng.
(3) Công dân hay công ty của một Bên ký kết bị thiệt hại về đầu tư do chiến tranh hay các cuộc xung đột vũ trang, các cuộc cách mạng, tình trạng khẩn cấp hay tình trạng nổi loạn khác trên lãnh thổ của Bên ký kết kia, sẽ được Bên ký kết nơi đó đối xử không kém thuận lợi hơn so với công dân hay công ty của mình trong việc hoàn trả, đền bù, bồi thường hay thực hiện các biện pháp bù đắp tương tự khác. Các khoản nói trên phải được tự do chuyển đổi.
(4) Đối với các trường hợp quy định ở điều này, công dân hay công ty của một Bên ký kết được hưởng các điều kiện ưu đãi nhất trên lãnh thổ của Bên ký kết kia.
a) Vốn và các khoản đóng góp thêm để duy trì hay mở rộng việc đầu tư;
b) Thu nhập;
c) Các khoản để trả tiền vay;
d) Các khoản thu từ việc thanh lý hay bán toàn bộ hay từng phần của đầu tư;
e) Các khoản bồi thường đã được dự liệu ở Điều 4.
(2) Tỷ giá này, phải phù hợp với tỷ giá chéo "cross rate" được hình thành từ các tỷ giá chuyển đổi tương ứng do Qũy tiền tệ Quốc tế đưa ra vào thời điểm thanh toán chuyển, trên cơ sở chuyển đổi các đồng tiền liên quan trong "quyền rút vốn đặc biệt".
(2) Mỗi Bên ký kết sẽ thực hiện mọi nghĩa vụ khác mà họ đã cam kết với đầu tư của công dân hay công ty của Bên ký kết kia trên lãnh thổ của mình.
(2) Nếu như việc tranh chấp không giải quyết được thông qua cách trên, thì theo yêu cầu của một trong hai Bên ký kết việc tranh chấp sẽ được đưa ra Tòa án trọng tài.
(3) Tuỳ theo từng trường hợp Tòa án trọng tài được thành lập bằng cách mỗi Bên ký kết cử một trọng tài viên và 2 trọng tài viên đó sẽ thỏa thuận chọn một công dân của một nước thứ ba là Chủ tịch Tòa án trọng tài và phải được Chính phủ hai Bên ký kết chấp thuận. Việc cử trọng tài viên được tiến hành trong thời hạn 02 tháng, đối với Chủ tịch trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày một trong các Bên ký kết thông báo cho Bên ký kết kia ý định đưa vụ tranh chấp ra Tòa án trọng tài.
(4) Nếu thời hạn ghi ở khoản 3 trên không được thi hành, trong trường hợp không có một thỏa thuận nào khác, mỗi Bên ký kết có thể yêu cầu Chủ tịch Tòa án Quốc tế thực hiện việc chỉ định cần thiết. Nếu Chủ tịch Tòa án Quốc tế là công dân của một trong hai Bên ký kết hay bị cản trở vì một lý do khác, thì Phó Chủ tịch thực hiện việc chỉ định. Nếu Phó Chủ tịch cũng là công dân của một trong hai Bên ký kết hay cũng bị cản trở, thì một thành viên của Tòa án này sẽ thứ tự cấp bậc kế tiếp, mà không phải là công dân của một trong hai Bên ký kết, sẽ thực hiện việc chỉ định.
(5) Tòa án trọng tài quyết định theo đa số phiếu. Quyết định của Tòa án trọng tài là ràng buộc. Mỗi Bên ký kết chịu chi phí cho thành viên của mình cũng như cho đại diện của mình trong qúa trình tố tụng; chi phí cho Chủ tịch cũng như các chi phí khác do hai Bên cùng chịu bằng nhau. Tòa án trọng tài có thể có quy định khác về án phí. Ngoài ra, Tòa án trọng tài tự quy định thủ tục tố tụng của mình.
(6) Nếu cả hai Bên ký kết đều tham gia Công ước ngày 18 tháng 3 năm 1965 về giải quyết tranh chấp về đầu tư giữa Nhà nước và công dân của nước khác, thì theo quy định tai Điều 27 khoản 1 của Công ước, việc đệ trình vụ tranh chấp lên Tòa án trọng tài nêu trên không được đề cập đến trong trường hợp đã đạt được thỏa thuận giữa công dân hay công ty của một Bên ký kết với Bên ký kết kia, theo Điều 25 của Công ước. Quy định trên không làm ảnh hưởng tới khả năng đệ trình vụ tranh chấp lên Tòa án trọng tài nêu trên trong trường hợp không tôn trọng quyết định của Tòa án trọng tài theo quy định của Công ước (Điều 27) hay trong trường hợp có sự thế quyền theo luật định hay theo thỏa thuận pháp lý theo Điều 6 của Hiệp định này.
(2) Nếu vụ tranh chấp không được giải quyết trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày vụ tranh chấp được đưa ra bởi một trong hai Bên tranh chấp, thì theo yêu cầu của công dân hay công ty của Bên ký kết kia, vụ tranh chấp đó sẽ được đưa ra giải quyết theo thủ tục trọng tài . Nếu như không có thỏa thuận nào khác giữa các Bên, thì các quy định của Điều 10 từ khoản 3 đến khoản 5 được áp dụng tương ứng theo cách sau: mỗi Bên tranh chấp cử thành viên vào Tòa án trọng tài theo Điều 10, khoản 3 và nếu như thời hạn quy định ở Điều 10, khoản 3 không được thi hành, trong trường hợp không có thỏa thuận nào khác thì mỗi Bên tranh chấp có quyền yêu cầu Chủ tịch Tòa án trọng tài của Phòng Thương mại Quốc tế ở Paris thực hiện việc chỉ định trên. Phán quyết của Trọng tài sẽ được thi hành theo luật quốc gia.
(3) Bên ký kết Hiệp định có tham gia tranh chấp không được viện cớ phản đối trong qúa trình tố tụng hay trong qúa trình thi hành phán quyết do việc công dân hay công ty của Bên ký kết kia đã nhận bồi thường từ công ty bảo hiểm cho một phần hay toàn bộ các thiệt hại.
(4) Trong trường hợp hai Bên ký kết tham gia công ước ngày 18 tháng 03 năm 1965 về giải quyết tranh chấp về đầu tư giữa Nhà nước và công dân nước kia, thì các tranh chấp theo Điều này phải được giải quyết theo thủ tục trọng tài trong khuôn khổ của Công ước nêu trên, trừ khi các Bên tranh chấp có một thỏa thuận khác; mỗi Bên ký kết tuyên bố tán thành một thủ tục như vậy.
(1) Hiệp định này phải được phê duyệt; văn bản phê duyệt sẽ được trao đổi thật sớm tại Bonn.
(2) Hiệp định này có hiệu lực sau 01 tháng kể từ ngày trao đổi các văn bản phê duyệt. Hiệp định có hiệu lực trong 10 năm; sau thời hạn đó, Hiệp định mặc nhiên được gia hạn tiếp không hạn định, nếu một trong hai Bên ký kết không tuyên bố bằng văn bản hủy Hiệp định này trong thời gian 12 tháng trước khi thời hạn của Hiệp định kết thúc. Sau 10 năm. mỗi Bên ký kết có thể tuyên bố hủy Hiệp định vào bất kỳ lúc nào trong một thời hạn là 12 tháng.
(3) Các điều khoản từ Điều 1 đến Điều 12 của Hiệp định này vẫn có hiệu lực đối với các đầu tư được thực hiện trước khi Hiệp định này hết thời hạn trong một thời gian là 20 năm nữa kể từ ngày Hiệp định hết hiệu lực.
Làm tại Hà Nội, ngày 03 tháng 04 năm 1993 bằng hai bản gốc, bằng tiếng Việt và tiếng Đức, hai bản có giá trị như nhau.
| THAY MẶT | THAY MẶT |
Khi ký kết Hiệp định giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Liên bang Đức về việc khuyến khích và bảo hộ đầu tư lẫn nhau, những người được ủy quyền ký kết còn thỏa thuận các điều khoản sau đây có giá trị như là một phần cấu thành của Hiệp định này.
(1) Về Điều 1
a) Về thu nhập từ đầu tư và trong trường hợp tái đầu tư, thì kể cả thu nhập từ việc tái đầu tư, được hưởng sự bảo hộ giống như đối với đầu tư.
b) Không ảnh hưởng đến các thủ tục xác định quốc tịch , đặc biệt được coi là công dân của mỗi Bên ký kết bất kỳ cá nhân nào có hộ chiếu quốc gia do cơ quan có thẩm quyền của Bên ký kết đó cấp.
(2) Về Điều 2
Hiệp định này cũng được áp dụng trong các khu vực của vùng đặc khu kinh tế và thềm lục địa, nếu như tại các khu vực này Luật pháp quốc tế cho phép các Bên ký kết thực hiện các quyền tự chủ hay quyền tài phán.
(3) Về Điều 3
a) Đặc biệt "Hoạt động" theo tinh thần của Điều 3, khoản 2 được thừa nhận là, nhưng không chỉ là việc quản lý và sử dụng đầu tư. Khi cho phép đầu tư đối với một công dân hoặc công ty của Bên ký kết kia, mỗi Bên ký kết có thể quy định những điều kiện khác với những điều kiện áp dụng cho công dân hoặc công ty trong nước. Các điều kiện này, đặc biệt là những hạn chế về mua sắm các loại, cản trở việc tiêu thụ hoặc là các biện pháp tương tự, sau khi đã ban hành, không được thay đổi dẫn đến bất lợi cho công dân hoặc công ty của Bên ký kết kia. Các biện pháp được thi hành trên cơ sở trật tự và an toàn công cộng, bảo vệ sức khoẻ nhân dân hay phong tục tập quán không được coi là một sự đối xử "kém thuận lợi hơn" theo tinh thần của Điều
b) Các quy định của Điều 3 liên quan đến các ưu đãi về thuế, miễn và giảm thuế không áp dụng cho các cá nhân và công ty có trụ sở trên lãnh thổ của Bên ký kết kia mà theo Luật thuế của nước đó chỉ áp dụng cho những cá nhân và công ty có trụ sở trên lãnh thổ của nước đó.
c) Mỗi Bên ký kết sẽ xét duyệt một cách thiện chí trong khuôn khổ pháp luật của nước đó các đơn xin nhập cảnh và đơn xin cư trú của công dân của một trong các Bên ký kết, có liên quan đến đầu tư trên lãnh thổ của Bên ký kết kia; điều này cũng được áp dụng đối với những người làm công của một Bên ký kết muốn nhập cảnh và cư trú tại Bên ký kết kia để làm việc như người làm công. Các đơn xin cấp giấy phép làm việc cũng sẽ được xét duyệt một cách thiện chí.
(4) Về Điều 4
Quyền được bồi thường phát sinh cả trong trường hợp, nếu dùng các biện pháp của Nhà nước can thiệp và công ty là đối tượng của đầu tư và qua đó giá trị kinh tế của nó bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
(5) Về Điều 5
Trong trường hợp có những khó khăn đặc biệt trong cán cân thanh toán, Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, trong một khoảng thời gian không vượt qúa 3 năm có thể giới hạn việc tự do chuyển thu nhập từ việc bán hoặc thanh lý khoản đầu tư hợp lý theo Điều 5d; trong trường hợp này, sẽ bảo đảm việc bán hàng năm cho chuyển 33 1/3% tổng số giá trị phải chuyển.
Theo yêu cầu của nhà đầu tư, khoản tiền không được chuyển sẽ được ghi vào một tài khoản ngoại tệ và được tính lãi suất theo lãi suất phổ biến của ngân hàng.
(6) Về Điều 7
"Không chậm trễ" theo quy định ở Điều 7, khoản 1 được hiểu là việc chuyển được thực hiện trong một khoảng thời hạn thông thường là cần thiết để làm thủ tục chuyển đổi; thời hạn đó được tính từ thời điểm nộp đơn xin chuyển và trong mọi trường hợp không được kéo dài qúa 2 tháng.
(7) Đối với việc vận chuyển hàng hóa và người trong đầu tư, mỗi Bên ký kết sẽ không đình chỉ hay cản trở các công ty vận tải của Bên ký kết kia, và nếu cần thiết, sẽ cấp giấy phép vận chuyển:
a) Hàng hóa được trực tiếp xác định cho đầu tư theo tinh thần của Hiệp định này, hay hàng hóa do một công ty hay theo yêu cầu của một công ty mua trên lãnh thổ của mỗi Bên ký kết hay một nước thứ ba, mà trong đó có chứa đựng các giá trị tài sản theo tinh thần của Hiệp định này;
b) Các cá nhân đi lại trong mỗi quan hệ đối với việc đầu tư.
Làm tại Hà Nội, ngày 03 tháng 04 năm 1993 bằng hai bản gốc bằng tiếng Việt và tiếng Đức, hai bản có giá trị như nhau.
| THAY MẶT | THAY MẶT |
| BỘ NGOẠI GIAO | SAO Y BẢN CHÍNH "Để báo cáo, Để thực hiện". |
| Số: 37/LPQT | Hà Nội, ngày 20 tháng 4 năm 1993 |
|
Nơi gửi: | TL. BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO |
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.