Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Giới thiệu chung về Hiệp định

Hiệp định về phân định ranh giới trên biển giữa hai nước trong vịnh Thái Lan giữa Việt Nam và Thái Lan là một văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng, được ký kết tại Băng-cốc ngày 9 tháng 8 năm 1997 bởi Bộ trưởng Bộ Ngoại giao hai nước (đại diện phía Việt Nam là Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Cầm và đại diện phía Thái Lan là Bộ trưởng Prachuab Chaiyasan). Hiệp định này được thiết lập nhằm giải quyết dứt điểm việc phân định ranh giới thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn giữa hai quốc gia trong khu vực Vịnh Thái Lan, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc quản lý, bảo vệ và khai thác tài nguyên biển.

Quy định chi tiết về đường ranh giới trên biển (Điều 1)

Điều 1 của Hiệp định xác định cụ thể đường ranh giới trên biển giữa Việt Nam và Thái Lan tại khu vực chồng lấn tạo bởi yêu sách thềm lục địa của hai nước với các nội dung cốt lõi sau:

  • Đường ranh giới: Được xác định là đường thẳng nối liền giữa Điểm C và Điểm K.
  • Tọa độ Điểm C: Vĩ độ 07°49'00".0000 Bắc và Kinh độ 103°02'30".0000 Đông. Điểm C được xác định là điểm cực Bắc của Vùng Phát triển chung (JDA) giữa Thái Lan và Malaysia (theo Thỏa thuận ngày 21/02/1979) và trùng với Điểm 43 trên đường yêu sách thềm lục địa do Malaysia công bố năm 1979.
  • Tọa độ Điểm K: Vĩ độ 08°46'54".7754 Bắc và Kinh độ 102°12'11".5342 Đông. Điểm K nằm trên đường ranh giới trên biển giữa Việt Nam và Campuchia (đường thẳng cách đều giữa đảo Thổ Chu và đảo Vai vẽ từ điểm O có vĩ độ 09°35'00".4159 Bắc, kinh độ 103°10'15".9808 Đông).
  • Hệ quy chiếu và bản đồ: Tọa độ địa lý của các điểm nêu trên được tính toán dựa trên Hải đồ của Anh số 2414 (đính kèm dưới dạng Phụ lục của Hiệp định) và sử dụng Hệ tọa độ thiết lập trên Ellipsoid Everest-1830-Indian Datum.
  • Tính chất đường ranh giới: Đường thẳng nối C và K đồng thời đóng vai trò là đường ranh giới thềm lục địa và đường ranh giới vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) giữa Việt Nam và Thái Lan.
  • Xác định thực địa: Khi một trong hai Chính phủ có yêu cầu, vị trí thực tế của các điểm C, K và đường ranh giới trên biển sẽ được các chuyên gia đồ bản do hai nước chỉ định phối hợp xác định theo phương pháp thỏa thuận.

Đàm phán giải quyết khu vực chồng lấn ba bên (Điều 2)

Hiệp định mở đường cho việc giải quyết các tranh chấp đa phương phức tạp hơn trong khu vực:

  • Việt Nam và Thái Lan cam kết sẽ tiến hành đàm phán với Chính phủ Malaysia để giải quyết dứt điểm khu vực thềm lục địa chồng lấn giữa cả ba nước (Việt Nam - Thái Lan - Malaysia).
  • Khu vực ba bên này nằm trong phạm vi Vùng phát triển chung được thiết lập theo Thỏa thuận giữa Thái Lan và Malaysia ký ngày 21 tháng 2 năm 1979 tại Chiêng Mai.

Thừa nhận quyền chủ quyền và quyền tài phán (Điều 3)

Hai bên ký kết chính thức công nhận và thừa nhận quyền tài phán cũng như quyền chủ quyền của mỗi nước đối với vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế được giới hạn bởi đường ranh giới thiết lập theo Hiệp định này. Điều này đảm bảo tính tôn trọng pháp lý tuyệt đối đối với chủ quyền quốc gia của mỗi bên trên biển.

Hợp tác khai thác tài nguyên xuyên biên giới (Điều 4)

Để tối ưu hóa lợi ích kinh tế và tránh xung đột trong khai thác tài nguyên thiên nhiên, Hiệp định quy định:

  • Trong trường hợp phát hiện cấu tạo mỏ dầu, khí tự nhiên hoặc bất kỳ mỏ khoáng sản nào khác nằm vắt ngang qua đường ranh giới (nối Điểm C và Điểm K), hai bên có nghĩa vụ thông báo đầy đủ thông tin liên quan cho nhau.
  • Hai nước phải cùng nhau thỏa thuận để tìm ra phương án khai thác hữu hiệu nhất đối với các mỏ tài nguyên này.
  • Lợi nhuận thu được từ hoạt động khai thác chung đối với các cấu tạo mỏ xuyên biên giới này sẽ được phân chia một cách công bằng giữa hai quốc gia.

Cơ chế giải quyết tranh chấp (Điều 5)

Mọi tranh chấp phát sinh giữa Việt Nam và Thái Lan liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng các điều khoản của Hiệp định này phải được giải quyết một cách hòa bình. Phương thức giải quyết bắt buộc là thông qua con đường đàm phán hoặc thương lượng trực tiếp giữa hai bên.

Hiệu lực và ngôn ngữ văn bản (Điều 6)

Điều khoản cuối cùng quy định về thủ tục hiệu lực và tính pháp lý của văn bản:

  • Thời điểm có hiệu lực: Hiệp định chính thức có hiệu lực kể từ ngày hai bên hoàn tất việc trao đổi Văn kiện Phê chuẩn hoặc Phê duyệt theo đúng trình tự thủ tục pháp luật của mỗi nước.
  • Ngôn ngữ văn bản: Hiệp định được lập thành hai bản bằng ba thứ tiếng gồm tiếng Việt, tiếng Thái và tiếng Anh. Cả ba ngôn ngữ đều có giá trị pháp lý như nhau. Tuy nhiên, trong trường hợp xảy ra bất kỳ sự khác biệt nào về mặt giải thích giữa các bản dịch, bản tiếng Anh sẽ được sử dụng làm căn cứ pháp lý tối cao để đối chiếu và áp dụng.

HIỆP ĐỊNH

GIỮA CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ VƯƠNG QUỐC THÁI LAN VỀ PHÂN ĐỊNH RANH GIỚI TRÊN BIỂN GIỮA HAI NƯỚC TRONG VỊNH THÁI LAN

Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Thái Lan, dưới đây gọi là "Các Bên ký kết";

Xuất phát từ mong muốn củng cố quan hệ hữu nghị sẵn có giữa hai nước;

Nhằm thiết lập đường ranh giới trên biển giữa hai nước trong Vịnh Thái Lan tại khu vực chồng lấn tạo bởi yêu sách thềm lục địa của hai nước;

Đã thỏa thuận như sau:

Điều 1.

1. Đường ranh giới trên biển giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Thái Lan tại khu vực chồng lấn tạo bởi yêu sách thềm lục địa của hai nước là đường thẳng nối Điểm C và Điểm K được xác định theo vĩ độ và kinh độ dưới đây:

Điểm C:

Vĩ độ 07049'00".0000 Bắc

Kinh độ 103002'30".0000 Đông

Điểm K:

Vĩ độ 08046'54".7754 Bắc

Kinh độ 102012'11".5342 Đông.

2. Điểm C là điểm cực Bắc của Vùng Phát triển chung được xác lập theo Thỏa thuận giữa Vương quốc Thái Lan và Malaysia về việc thành lập Cơ quan Quyền lực chung Khai thác Tài nguyên Đáy biển trong Khu vực Thềm lục địa chồng lấn giữa Hai nước trong Vịnh Thái Lan, ký tại Chiêng Mai ngày 21 tháng 2 năm 1979, và đồng thời trùng với Điểm 43 của đường yêu sách thềm lục địa do Malaysia công bố năm 1979.

3. Điểm K là một điểm nằm trên đường ranh giới trên biển giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Cămpuchia, tức là một đường thẳng cách đều giữa đảo Thổ Chu và đảo Vai vẽ từ điểm O (vĩ độ 09035'.00".4159 Bắc và kinh độ 103010'15".9808 Đông).

4. Tọa độ của các điểm xác định tại các Khoản nói trên là tọa độ địa lý tính toán trên Hải đồ của Anh số 2414 được đính kèm theo như một Phụ lục của Hiệp định này. Hệ tọa độ sử dụng để đo đạc và tính toán được xác lập trên Ellipsoid Everest-1830-Indian Datum.

5. Đường biên giới trên biển nêu tại Khoản 1 nói trên sẽ là đường ranh giới giữa thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và thềm lục địa của Vương quốc Thái Lan, và cũng sẽ là đường ranh giới giữa vùng đặc quyền kinh tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và vùng đặc quyền kinh tế của Vương quốc Thái Lan.

6. Khi có yêu cầu của một trong hai Chính phủ, vị trí thực tế trên biển của các điểm C và K nói trên và của đường thẳng nối các điểm này sẽ được xác định theo phương pháp thỏa thuận giữa các chuyên gia đồ bản do hai Chính phủ chỉ định.

Điều 2.

Các Bên ký kết sẽ đàm phán với Chính phủ Malaysia để giải quyết khu vực thềm lục địa chồng lấn giữa 3 nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Vương quốc Thái Lan và Malaysia, khu vực này nằm trong Vùng phát triển chung được xác lập theo Thỏa thuận giữa Vương quốc Thái Lan và Malaysia về việc thành lập Cơ quan Quyền lực chung Khai thác Tài nguyên đáy biển trong Khu vực Thềm lục địa chồng lấn giữa Hai nước trong Vịnh Thái Lan, ký tại Chiêng Mai ngày 21 tháng 2 năm 1979.

Điều 3.

Các Bên ký kết công nhận và thừa nhận quyền tài phán và quyền chủ quyền của mỗi nước đối với vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế theo đường ranh giới trên biển được xác lập bởi Hiệp định này.

Điều 4.

Trong trường hợp có một cấu tạo mỏ dầu hoặc khí tự nhiên, hoặc các mỏ khoáng sản khác nằm vắt ngang đường ranh giới nêu tại Khoản 1 Điều 1, Các Bên sẽ thông báo cho nhau mọi thông tin liên quan và thỏa thuận về cách thức khai thác hữu hiệu nhất các cấu tạo hoặc mỏ nói trên, lợi nhuận thu được từ việc khai thác sẽ được phân chia công bằng.

Điều 5.

Mọi tranh chấp giữa Các Bên ký kết liên quan đến việc giải thích và áp dụng Hiệp định này sẽ được giải quyết một cách hòa bình thông qua đàm phán hoặc thương lượng.

Điều 6.

Hiệp định này sẽ có hiệu lực vào ngày trao đổi Văn kiện Phê chuẩn hoặc Phê duyệt, phù hợp với thủ tục luật pháp của mỗi nước.

Để làm bằng, các đại diện được ủy quyền hợp thức của hai Chính phủ đã ký Hiệp định này.

Hiệp định này làm tại Băng-cốc ngày 9 tháng 8 năm 1997 thành hai bản bằng tiếng Việt, tiếng Thái và tiếng Anh. Trong trường hợp có sự khác biệt giữa các văn bản, bản tiếng Anh sẽ được dùng làm căn cứ.

 

THAY MẶT CHÍNH PHỦ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO




Nguyễn Mạnh Cầm

THAY MẶT CHÍNH PHỦ
VƯƠNG QUỐC THÁI LAN
BỘ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO




Prachuab Chaiyasan

 


account_tree

Lược đồ văn bản đang được cập nhật.

link

Danh sách văn bản liên quan đang được cập nhật.

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Hiệp định về phân định ranh giới trên biển giữa hai nước trong vịnh Thái Lan giữa Việt Nam - Thái Lan

Số hiệu: Khongso
Loại văn bản: Điều ước quốc tế
Ngày ban hành: 09/08/1997
Nơi ban hành: Chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chính phủ Vương quốc Thái Lan
Người ký: Nguyễn Mạnh Cầm, Prachuab Chaiyasan
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
Ngày hiệu lực: Đang cập nhật
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Giao thông - Vận tải
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Hiệp định về phân định ranh giới trên biển gi...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký