Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Lệnh công bố Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 được ban hành nhằm chính thức công bố và đưa vào triển khai thực hiện đạo luật quy định về công tác bầu cử cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Văn bản này đặt nền móng pháp lý quan trọng cho việc tổ chức, xây dựng và kiện toàn bộ máy chính quyền địa phương các cấp thông qua hoạt động bầu cử dân chủ, khách quan và đúng pháp luật.

Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Văn bản áp dụng đối với toàn thể công dân Việt Nam có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và các tổ chức phụ trách bầu cử trên phạm vi cả nước trong việc thực hiện quyền bầu cử, ứng cử và tổ chức bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

Nội dung cốt lõi của các điều khoản đầu tiên (Từ Điều 1 đến Điều 4)

1. Nguyên tắc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (Điều 1)

  • Việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được tiến hành theo bốn nguyên tắc dân chủ cơ bản: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
  • Nguyên tắc phổ thông: Bảo đảm mọi công dân không bị phân biệt đối xử đều có quyền tham gia bầu cử khi đạt độ tuổi quy định.
  • Nguyên tắc bình đẳng: Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào một danh sách cử tri và chỉ được bỏ một phiếu bầu, giá trị phiếu bầu của mọi cử tri là ngang nhau.
  • Nguyên tắc trực tiếp: Cử tri tự mình đi bầu, trực tiếp bỏ phiếu vào hòm phiếu mà không qua người trung gian hoặc đại diện, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật.
  • Nguyên tắc bỏ phiếu kín: Bảo đảm sự tự do lựa chọn của cử tri, không ai được biết cử tri bầu cho ai, bảo vệ tính khách quan của kết quả bầu cử.

2. Quyền bầu cử và ứng cử của công dân (Điều 2)

  • Quy định rõ ràng về độ tuổi tối thiểu để thực hiện quyền công dân: Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
  • Khẳng định quyền bình đẳng tuyệt đối của công dân trong bầu cử và ứng cử, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp hay thời hạn cư trú.

3. Tiêu chuẩn của đại biểu Hội đồng nhân dân (Điều 3)

  • Đại biểu Hội đồng nhân dân phải là người trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
  • Có phẩm chất đạo đức tốt, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có tinh thần đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật khác.
  • Có trình độ văn hóa, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe và điều kiện để thực hiện nhiệm vụ của người đại biểu nhân dân.
  • Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhân dân.

4. Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong công tác bầu cử (Điều 4)

  • Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện cuộc bầu cử theo đúng quy định của pháp luật.
  • Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên có vai trò quan trọng trong việc hiệp thương, lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân; đồng thời tham gia giám sát việc tổ chức bầu cử.
  • Các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để cử tri thực hiện quyền bầu cử và ứng cử của mình.

Hiệu lực thi hành

Lệnh công bố có hiệu lực kể từ ngày ban hành, làm cơ sở pháp lý để triển khai toàn bộ các quy định của Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003 trên thực tế, bảo đảm tính thống nhất và nghiêm minh của hệ thống pháp luật Việt Nam.

CHỦ TỊCH NƯỚC
*****

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
*******

Số: 22/2003/L-CTN

Hà Nội , ngày 10 tháng 12 năm 2003

 

LỆNH

VỀ VIỆC CÔNG BỐ LUẬT BẦU CỬ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN

CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Căn cứ Điều 103 và Điều 106 của Hiếp pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội Khoá X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ vào Điều 91 của Luật Tổ chức Quốc hội;
Căn cứ vào Điều 50 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật,

NAY CÔNG BỐ:

Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.

Đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003./.

 

 

CHỦ TỊCH NƯỚC  




Trần Đức Lương

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Lệnh công bố Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003

Số hiệu: 22/2003/L-CTN
Loại văn bản: Lệnh
Ngày ban hành: 10/12/2003
Nơi ban hành: Chủ tịch nước
Người ký: Trần Đức Lương
Ngày công báo: 22/12/2003
Số công báo: Số 219
Ngày hiệu lực: 10/12/2003
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Bộ máy hành chính
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Lệnh công bố Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nh...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký