Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Luật đất đai mới nhất năm 2026
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Lệnh của Chủ tịch nước công bố Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013 (Lệnh số 04/2013/L-CTN) là văn bản pháp lý quan trọng nhằm chính thức ban hành và triển khai áp dụng Luật hòa giải ở cơ sở được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2013. Văn bản này đánh dấu bước phát triển mới trong việc thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về tăng cường công tác hòa giải tại cộng đồng dân cư, góp phần giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013 xác định rõ phạm vi điều chỉnh bao gồm các quy định về nguyên tắc, chính sách của Nhà nước về hòa giải ở cơ sở; quy chuẩn về hòa giải viên, tổ chức và hoạt động của tổ hòa giải; quy trình thực hiện hoạt động hòa giải ở cơ sở; cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan trong công tác này. Đối tượng áp dụng của Luật bao gồm các hòa giải viên, tổ hòa giải, các bên tranh chấp hoặc có mâu thuẫn cần hòa giải, cùng các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động hòa giải tại địa bàn cơ sở.

Nội dung cốt lõi của các điều khoản đầu (Từ Điều 1 đến Điều 4)

1. Phạm vi điều chỉnh của Luật (Điều 1)

  • Quy định toàn diện về các nguyên tắc cơ bản và chính sách phát triển của Nhà nước đối với công tác hòa giải ở cơ sở.
  • Xác định rõ địa vị pháp lý, tiêu chuẩn của hòa giải viên và cơ cấu tổ chức, hoạt động của tổ hòa giải tại thôn, tổ dân phố.
  • Quy định trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải và phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong việc hỗ trợ, quản lý hoạt động hòa giải.

2. Giải thích từ ngữ chuyên ngành (Điều 2)

  • Hòa giải ở cơ sở: Được định nghĩa là hoạt động do hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật thuộc phạm vi hòa giải theo quy định của Luật này.
  • Cơ sở: Được xác định cụ thể là phạm vi thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố và các cộng đồng dân cư tương đương khác.

3. Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở (Điều 3)

  • Tôn trọng sự tự nguyện của các bên; không được ép buộc, áp đặt ý chí của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào lên các bên tranh chấp trong quá trình hòa giải.
  • Tiến hành hòa giải phù hợp với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đạo đức xã hội, phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân.
  • Bảo đảm tính khách quan, công bằng, kịp thời, có lý, có tình; giữ bí mật thông tin đời tư của các bên, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  • Tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của người khác; không xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng.
  • Không lợi dụng hoạt động hòa giải ở cơ sở để ngăn cản các bên khởi kiện ra Tòa án hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.

4. Chính sách của Nhà nước về hòa giải ở cơ sở (Điều 4)

  • Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động hòa giải ở cơ sở phát triển, phát huy vai trò tự quản của cộng đồng dân cư trong việc giải quyết các tranh chấp nhỏ phát sinh.
  • Hỗ trợ kinh phí cho hoạt động hòa giải ở cơ sở, bao gồm chi hỗ trợ cho tổ hòa giải và hòa giải viên khi thực hiện vụ việc hòa giải cụ thể theo quy định của pháp luật.
  • Khuyến khích Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác và mọi công dân tham gia, hỗ trợ tích cực cho công tác hòa giải ở cơ sở.
  • Thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng hòa giải cho đội ngũ hòa giải viên nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động thực tế.

Hiệu lực thi hành

Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013 chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2014, thay thế cho Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở năm 1998, tạo lập hành lang pháp lý vững chắc và đồng bộ hơn cho công tác hòa giải tại Việt Nam.

CHỦ TỊCH NƯỚC
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 08/2013/L-CTN

Hà Nội, ngày 28 tháng 06 năm 2013

 

LỆNH

VỀ VIỆC CÔNG BỐ LUẬT

CHỦ TỊCH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Căn cứ Điều 103 và Điều 106 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10;

Căn cứ Điều 91 của Luật tổ chức Quốc hội;

Căn cứ Điều 57 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật,

NAY CÔNG BỐ

Luật hòa giải ở cơ sở

Đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2013.

 

 

CHỦ TỊCH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM




Trương Tấn Sang

 

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Lệnh công bố Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013

Số hiệu: 08/2013/L-CTN
Loại văn bản: Lệnh
Ngày ban hành: 28/06/2013
Nơi ban hành: Chủ tịch nước
Người ký: Trương Tấn Sang
Ngày công báo: 13/07/2013
Số công báo: Từ số 407 đến số 408
Ngày hiệu lực: 28/06/2013
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Thủ tục Tố tụng
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Lệnh công bố Luật hòa giải ở cơ sở năm 2013?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký