Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Ngày 18 tháng 02 năm 1999, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Lệnh số 01/1999/L-CTN về việc công bố Pháp lệnh Du lịch, được Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 08 tháng 02 năm 1999. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc quản lý, phát triển ngành du lịch Việt Nam thành một ngành kinh tế mũi nhọn, bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động du lịch. Pháp lệnh Du lịch năm 1999 áp dụng đối với mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động du lịch hoặc có liên quan đến hoạt động du lịch trên lãnh thổ Việt Nam. Văn bản điều chỉnh toàn bộ các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình khai thác tài nguyên du lịch, kinh doanh du lịch, quản lý nhà nước về du lịch và bảo vệ môi trường du lịch. Phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh Du lịch (Điều 1)

Pháp lệnh quy định các hoạt động phát triển du lịch, bảo vệ và khai thác tài nguyên du lịch, quản lý nhà nước về du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch của nhân dân và khách nước ngoài, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Việc điều chỉnh này hướng tới xây dựng một môi trường du lịch văn minh, lành mạnh, đậm đà bản sắc dân tộc.

Đối tượng áp dụng và phạm vi điều chỉnh chi tiết (Điều 2)
  • Áp dụng đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân Việt Nam tham gia hoạt động du lịch.
  • Áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động du lịch trên lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.
Chính sách phát triển du lịch của Nhà nước (Điều 3)

Nhà nước Việt Nam xác định du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao. Các chính sách cốt lõi bao gồm:

  • Khuyến khích và bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đầu tư, hoạt động kinh doanh du lịch.
  • Có chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch, phát triển nguồn nhân lực du lịch, xúc tiến quảng bá du lịch trong và ngoài nước.
  • Bảo vệ, tôn tạo và khai thác hợp lý, có hiệu quả tài nguyên du lịch; ngăn chặn các hành vi xâm hại đến tài nguyên và môi trường du lịch.
  • Mở rộng hợp tác quốc tế về du lịch trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi.
Giải thích từ ngữ và các khái niệm cơ bản trong hoạt động du lịch (Điều 4)

Để bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật, văn bản đưa ra định nghĩa rõ ràng cho các khái niệm nền tảng:

  • Du lịch: Là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
  • Khách du lịch: Gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế, là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, đi làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến.
  • Tài nguyên du lịch: Là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di sản văn hóa, các giá trị nhân văn, công trình sáng tạo của con người có thể được khai thác nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch.
  • Khu du lịch, Điểm du lịch, Tuyến du lịch: Là các địa bàn, địa điểm hoặc lộ trình có tài nguyên du lịch hấp dẫn, được quy hoạch và đầu tư nhằm phục vụ khách du lịch.
  • Kinh doanh du lịch: Là việc thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động kinh doanh lữ hành, hướng dẫn du lịch, lưu trú du lịch, vận chuyển khách du lịch và các dịch vụ du lịch khác nhằm mục đích sinh lợi.
Hiệu lực thi hành

Lệnh công bố Pháp lệnh Du lịch năm 1999 có hiệu lực kể từ ngày ký ban hành. Pháp lệnh Du lịch năm 1999 chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 05 năm 1999, mở ra một chương mới cho công tác quản lý nhà nước và hoạt động kinh doanh du lịch tại Việt Nam, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho sự hội nhập quốc tế của ngành du lịch.

CHỦ TỊCH NƯỚC
*****

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
*******

Số: 02/L-CTN

Hà Nội, ngày 20 tháng 02 năm 1999

 

LỆNH

VỀ VIỆC CÔNG BỐ PHÁP LỆNH DU LỊCH

CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Căn cứ vào Điều 103 và Điều 106 Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Căn cứ vào Điều 78 của Luật Tổ chức Quốc hội;
Căn cứ vào Điều 51 của Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
;

NAY CÔNG BỐ:

Pháp lệnh Du lịch

Đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 08 tháng 02 năm 1999./.

 

 

CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM




Trần Đức Lương

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Lệnh công bố Pháp lệnh du lịch 1999

Số hiệu: 02/L-CTN
Loại văn bản: Lệnh
Ngày ban hành: 20/02/1999
Nơi ban hành: Chủ tịch nước
Người ký: Trần Đức Lương
Ngày công báo: 31/03/1999
Số công báo: Số 12
Ngày hiệu lực: 20/02/1999
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Văn hóa - Xã hội
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Lệnh công bố Pháp lệnh du lịch 1999?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký