Nghị định 01-CP được Hội đồng Chính phủ ban hành năm 1960 quy định chi tiết về nhiệm vụ và tổ chức của Bộ Tư pháp, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong việc hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về tư pháp và pháp luật trong giai đoạn đầu xây dựng chế độ mới.
Văn bản áp dụng đối với Bộ Tư pháp, các cơ quan tư pháp địa phương ở cấp khu, tỉnh, thành phố, các cơ quan Tòa án nhân dân các cấp, cùng các cán bộ, công chức hoạt động trong ngành tư pháp và tòa án trên phạm vi cả nước.
Nhiệm vụ và quyền hạn cốt lõi của Bộ Tư pháp
Bộ Tư pháp được giao phó những trọng trách mang tính chiến lược và toàn diện nhằm xây dựng và củng cố hệ thống pháp luật, bao gồm các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Nghiên cứu và hướng dẫn tổ chức tòa án địa phương: Thực hiện nghiên cứu các quy định về hệ thống tổ chức, thẩm quyền của Tòa án nhân dân địa phương các cấp và cơ quan Tư pháp cấp xã, đồng thời trực tiếp hướng dẫn triển khai các quy định này trên thực tế.
- Xây dựng và dự thảo văn bản pháp luật: Chủ trì nghiên cứu, soạn thảo các bộ luật và đạo luật tổng hợp quan trọng thuộc lĩnh vực dân sự, hình sự cũng như thủ tục tố tụng tư pháp.
- Tuyên truyền, phổ biến pháp luật: Chỉ đạo toàn diện công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật của quần chúng nhân dân.
- Quản lý các tổ chức bổ trợ tư pháp: Nghiên cứu quy định và quản lý hoạt động của các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động tư pháp như hội thẩm nhân dân, luật sư, bào chữa viên, công chứng viên và giám định viên.
- Đào tạo nguồn nhân lực: Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và giáo dục chuyên môn, chính trị cho đội ngũ cán bộ Tòa án và cán bộ Tư pháp.
- Quản lý nhân sự và biên chế: Thực hiện quản lý cán bộ, công chức và chỉ tiêu biên chế trong toàn ngành Tư pháp theo đúng chế độ phân cấp quản lý của Nhà nước.
- Giám sát và tổng kết hoạt động: Thực hiện công tác hướng dẫn, kiểm tra định kỳ và tổng kết thực tiễn hoạt động của toàn ngành Tư pháp để kịp thời rút kinh nghiệm, nâng cao hiệu quả công tác.
Cơ cấu tổ chức bộ máy của Bộ Tư pháp từ trung ương đến địa phương
Để đảm bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao, bộ máy tổ chức của Bộ Tư pháp được thiết lập chặt chẽ ở cả cấp trung ương và địa phương:
- Các đơn vị trực thuộc Bộ ở trung ương bao gồm: Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Tuyên giáo, Vụ Nghiên cứu pháp luật, Trường cán bộ tư pháp và Văn phòng Bộ. Ngoài ra, Bộ trưởng Bộ Tư pháp có quyền quyết định thành lập một số Phòng giúp việc chuyên môn sau khi nhận được sự phê chuẩn từ Thủ tướng Chính phủ.
- Hệ thống cơ quan tư pháp địa phương: Tiến hành thành lập các cơ quan Tư pháp chuyên trách tại các đơn vị hành chính cấp khu, tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương nhằm quản lý thống nhất công tác tư pháp tại địa phương.
Mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan Tòa án và cơ quan Tư pháp
Nghị định khẳng định công tác tòa án và công tác tư pháp có mối quan hệ hữu cơ, liên quan mật thiết và bổ sung cho nhau. Do đó, các cơ quan Tòa án và cơ quan Tư pháp từ cấp trung ương đến địa phương có trách nhiệm phải phối hợp chặt chẽ, đồng bộ trong mọi hoạt động để hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ chính trị, pháp lý do Nhà nước giao phó.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm tổ chức thực hiện
Nghị định quy định rõ Bộ trưởng Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trực tiếp trước Hội đồng Chính phủ trong việc chỉ đạo, tổ chức và hướng dẫn thi hành toàn diện các nội dung của văn bản này.
| HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 01-CP | Hà Nội, ngày 11 tháng 02 năm 1960 |
HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ đề nghị của ông Bộ trưởng Bộ Tư pháp;
Căn cứ nghị quyết của Hội đồng Chính phủ trong phiên họp Hội nghị Thường vụ của Hội đồng Chính phủ ngày 9-9-1959;
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1. - Nhiệm vụ của Bộ Tư pháp là:
1. Nghiên cứu những quy định về hệ thống tổ chức và thẩm quyền của Tòa án nhân dân địa phương các cấp, của Tư pháp ở xã; hướng dẫn việc thực hiện các quy định ấy.
2. Nghiên cứu và dự thảo các bộ luật và báo đạo luật tổng hợp về dân sự, hình sự và thủ tục tố tụng.
3. Chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhằm mục đích giáo dục cho nhân dân ý thức tuân theo pháp luật.
4. Nghiên cứu những quy định về hội thẩm nhân dân, về tổ chức luật sư, bào chữa viên, công chứng viên, giám định viên, về quản lý các tổ chức ấy.
5. Đào tạo và giáo dục cán bộ Tòa án và cán bộ Tư pháp.
6. Quản lý cán bộ và biên chế của ngành Tư pháp theo chế độ phân cấp quản lý cán bộ và biên chế.
7. Hướng dẫn, kiểm tra và tổng kết công tác của ngành Tư pháp.
Điều 2. – Tổ chức của Bộ Tư pháp gồm có:
1. Vụ Tổ chức cán bộ,
2. Vụ Tuyên giáo,
3. Vụ Nghiên cứu pháp luật,
4. Trường cán bộ tư pháp,
5. Văn phòng,
và một số Phòng giúp việc do Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định thành lập sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn.
Điều 3. - Ở các khu, tỉnh, thành phố sẽ thành lập các cơ quan Tư pháp.
Điều 5. – Ông Bộ trưởng Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm thi hành nghị định này.
| TM. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ |
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.