Nghị định 07-CP được ban hành năm 1960 bởi Hội đồng Chính phủ nhằm quy định về việc cấp sổ lao động cho người lao động trong biên chế Nhà nước, đánh dấu một bước đi quan trọng trong công tác quản lý nhân sự, ghi nhận quá trình cống hiến và bảo đảm quyền lợi chính đáng cho người lao động thời kỳ đầu xây dựng đất nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định quy định việc thiết lập và cấp sổ lao động theo mẫu thống nhất cho toàn bộ người lao động nằm trong biên chế của các xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường, các tổ chức kinh tế, các cơ quan Nhà nước (bao gồm cả người lao động làm việc trong quân đội) và các đoàn thể nhân dân.
Nội dung và cấu trúc của sổ lao động
Sổ lao động được thiết kế theo một mẫu thống nhất chung, bao gồm 10 mục thông tin cơ bản và toàn diện sau đây:
- Sơ lược lý lịch cá nhân và ảnh chân dung của người lao động.
- Tình hình và hoàn cảnh gia đình của người lao động.
- Quá trình làm việc, công tác thực tế.
- Quá trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ.
- Tình hình sức khỏe và kết quả rèn luyện thân thể.
- Tình hình bệnh tật và các tai nạn lao động phát sinh trong quá trình làm việc.
- Các hình thức khen thưởng đã được nhận.
- Các hình thức kỷ luật đã bị áp dụng.
- Chứng thực của đơn vị sử dụng lao động tại thời điểm thực hiện cấp sổ.
- Chữ ký xác nhận và đóng dấu của cơ quan có thẩm quyền cấp sổ.
Thẩm quyền cấp và quản lý sổ lao động
- Ủy ban hành chính khu, thành phố, tỉnh là cơ quan có thẩm quyền cấp sổ lao động cho người lao động làm việc tại các xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường, tổ chức kinh tế và cơ quan thuộc địa phương mình quản lý.
- Sở Lao động và Ty Lao động có trách nhiệm hỗ trợ Ủy ban hành chính địa phương trong việc hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc cấp và quản lý sổ lao động. Trong trường hợp cần thiết, các cơ quan này có thể được Ủy ban hành chính ủy quyền trực tiếp thực hiện việc cấp sổ.
Trách nhiệm của đơn vị sử dụng lao động
Đơn vị sử dụng lao động có vai trò chủ chốt trong việc quản lý trực tiếp sổ lao động với các nghĩa vụ cụ thể:
- Tổ chức thực hiện việc cấp sổ lao động dưới sự lãnh đạo của Ủy ban hành chính và hướng dẫn chuyên môn của Sở hoặc Ty Lao động địa phương. Toàn bộ chi phí liên quan đến việc cấp sổ do đơn vị sử dụng lao động chi trả, ngoại trừ tiền chụp ảnh do người lao động tự chịu.
- Trực tiếp lưu giữ sổ lao động và ghi chép đầy đủ, chính xác các thông tin cần thiết phát sinh trong suốt quá trình người lao động làm việc tại đơn vị.
- Kịp thời báo cáo với Ủy ban hành chính cấp tỉnh, thành phố hoặc khu để xin cấp sổ lao động mới mỗi khi tuyển dụng người chưa có sổ vào biên chế của đơn vị.
Quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động
- Khi thôi việc hoặc được điều động, thuyên chuyển công tác đi nơi khác, người lao động được nhận lại sổ lao động của mình và có quyền yêu cầu đơn vị sử dụng lao động ghi bổ sung các thông tin còn thiếu sót.
- Người lao động có nghĩa vụ bảo quản sổ lao động cẩn thận; tuyệt đối không tự ý tẩy xóa, bôi bẩn, sửa chữa hoặc tự ý thêm bớt nội dung trong sổ; không được cho người khác mượn sổ dưới mọi hình thức.
- Trường hợp bị mất sổ, người lao động phải báo ngay cho cơ quan Công an và cơ quan Lao động địa phương để xử lý. Nếu sổ bị rách nát, hư hỏng, người lao động được quyền xin cấp lại bản khác tại Ủy ban hành chính nơi đã cấp sổ trước đó.
- Khi chuyển đến đơn vị công tác mới, người lao động có trách nhiệm nộp lại sổ lao động cho đơn vị mới để quản lý theo quy định.
Trách nhiệm của người giữ sổ và chế tài xử lý vi phạm
- Người được giao nhiệm vụ quản lý, giữ sổ lao động tại các đơn vị có trách nhiệm bảo quản sổ cẩn thận; không được tẩy xóa, bôi xóa, sửa chữa thông tin; không được lấy sổ của người này cho người khác mượn. Khi xảy ra mất sổ, phải báo cáo ngay cho thủ trưởng đơn vị, cơ quan Công an và cơ quan Lao động địa phương.
- Mọi hành vi vi phạm các quy định nêu trên sẽ bị xử lý nghiêm khắc tùy theo mức độ vi phạm: phê bình, cảnh cáo, ghi nhận sai phạm vào sổ lao động (đối với người lao động) hoặc ghi vào lý lịch (đối với người giữ sổ), hoặc có thể bị truy tố trước pháp luật.
Điều khoản thi hành
Bộ trưởng Bộ Lao động chịu trách nhiệm ban hành các quy định chi tiết, hướng dẫn cụ thể về quy trình, thủ tục cấp và quản lý sổ lao động thống nhất trên phạm vi toàn quốc.
| HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 07-CP | Hà Nội, ngày 18 tháng 04 năm 1960 |
HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
Để tăng cường quản lý lực lượng lao động trong biên chế Nhà nước, đồng thời để đáp ứng nguyện vọng của những người lao động mong được có một cuốn sổ chính thức chứng nhận khả năng nghề nghiệp và quá trình lao động của mình;
Theo đề nghị của ông Bộ trưởng Bộ Lao động;
Căn cứ và nghị quyết của Hội đồng Chính phủ trong phiên họp Hội nghị thường vụ của Hội đồng Chính phủ ngày 09/9/1959,
NGHỊ ĐỊNH:
Sổ lao động làm theo mẫu thống nhất gồm những mục sau đây:
1. Sơ lược lý lịch; ảnh của người lao động.
2. Tình hình, hoàn cảnh gia đình.
3. Quá trình làm việc.
4. Quá trình đào tạo.
5. Tình hình sức khỏe và rèn luyên thân thể.
6. Tinh hình bệnh tật và tai nạn lao động.
7. Khen thưởng.
8. Kỷ luật.
9. Chứng thực của đơn vị sử dụng lao động lúc cấp sổ.
10. Cơ quan cấp sổ ký và đóng dấu.
Các sở, Ty Lao động giúp đỡ Ủy ban hành chính địa phương hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc cấp và quản lý sổ lao động, và có thể được Ủy ban hành chính ủy quyền cấp sổ lao động.
Điều 3: Đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệm:
a) Tổ chức thực hiện việc cấp sổ lao động dưới sự lãnh đạo của Ủy ban hành chính và theo sự hướng dẫn của Sở, Ty Lao động địa phương; phí tổn về việc cấp sổ lao động do đơn vị sử dụng chịu (trừ tiền ảnh do người lao động chịu).
b) Giữ sổ lao động và ghi vào sổ những điều cần thiết trong quá trình người lao động làm việc ở đơn vị.
c) Báo cáo với Ủy ban hành chính khu, thành phố, tỉnh để xin cấp sổ lao động mỗi khi tuyển dụng vào biên chế người chưa có sổ lao động.
Khi sổ bị hư hỏng, rách, nát, người lao động được xin cấp bản khác ở Ủy ban hành chính khu, thành phố, tỉnh nơi mình được cấp sổ.
Khi chuyển đi nơi khác công tác, người lao động phải nộp sổ cho nơi ấy.
Ai không làm đúng những điều trên đây, tùy theo từng trường hợp sẽ bị phê bình, cảnh cáo, ghi vào sổ lao động (nếu là người lao động), ghi vào lý lịch (nếu là người giữ sổ), hoặc bị truy tố trước tòa án.
Điều 6: Ông Bộ trưởng Bộ Lao động quy định chi tiết về việc cấp và quản lý sổ lao động.
| TM. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ |
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.
- 1 Thông tư 132-TTg năm 1961 về việc cấp phát sổ lao động do Phủ Thủ tướng ban hành
- 2 Thông tư 10-TT/LĐ năm 1960 hướng dẫn thi hành Nghị định 7/CP 1960 về việc cấp phát sổ lao động do Bộ Lao động ban hành
- 3 Thông tư 13-LĐ/TT năm 1961 bổ sung Thông tư 10-LĐ/Thông tư 1960 hướng dẫn cấp sổ lao động do Bộ Lao động ban hành
- 1 Thông tư 132-TTg năm 1961 về việc cấp phát sổ lao động do Phủ Thủ tướng ban hành
- 2 Thông tư 10-TT/LĐ năm 1960 hướng dẫn thi hành Nghị định 7/CP 1960 về việc cấp phát sổ lao động do Bộ Lao động ban hành
- 3 Thông tư 13-LĐ/TT năm 1961 bổ sung Thông tư 10-LĐ/Thông tư 1960 hướng dẫn cấp sổ lao động do Bộ Lao động ban hành