Nghị định 104/2004/NĐ-CP do Chính phủ ban hành quy định chi tiết về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động của cơ quan Công báo; thủ tục gửi, tiếp nhận và đăng văn bản pháp luật trên Công báo; cũng như trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với việc đăng văn bản pháp luật trên Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Đối tượng áp dụng của Nghị định bao gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản, cơ quan Công báo ở Trung ương và cấp tỉnh, cùng các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động xuất bản, phát hành, quản lý và sử dụng Công báo tại Việt Nam.
Vị trí, chức năng và nguyên tắc hoạt động của Công báo
- Vị trí và chức năng: Công báo là ấn phẩm thông tin pháp lý chính thức của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Chính phủ thống nhất quản lý. Công báo có chức năng công bố các văn bản pháp luật, thời điểm có hiệu lực của văn bản, và các Điều ước quốc tế đã có hiệu lực đối với Việt Nam (trừ các Điều ước quốc tế có thỏa thuận không công bố hoặc không được phép công bố).
- Hình thức xuất bản: Công báo được xuất bản ở cả cấp Trung ương và cấp tỉnh, phát hành rộng rãi cho mọi đối tượng. Công báo bao gồm hai hình thức là Công báo in và Công báo điện tử. Riêng Công báo xuất bản ở Trung ương có thêm Phụ trương Công báo.
- Nguyên tắc đăng văn bản: Văn bản pháp luật phải được đăng toàn văn, chính xác, đầy đủ và kịp thời. Tuyệt đối không đăng các văn bản thuộc danh mục bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật.
Hệ thống tổ chức cơ quan Công báo
- Cơ quan Công báo Trung ương: Là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Văn phòng Chính phủ, có tư cách pháp nhân, tài khoản và con dấu riêng. Cơ quan này chịu trách nhiệm tiếp nhận, đăng ký, hệ thống, lưu trữ, phổ biến văn bản pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương và tổ chức xuất bản, phát hành tờ Công báo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Cơ quan Công báo cấp tỉnh: Thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Cơ quan này thực hiện nhiệm vụ tiếp nhận, đăng ký, hệ thống, lưu trữ, phổ biến văn bản pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền cấp tỉnh, cấp huyện và tổ chức xuất bản, phát hành tờ Công báo địa phương.
Các loại văn bản đăng trên Công báo
- Trên Công báo Trung ương: Đăng các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Trung ương; quyết định xử lý văn bản trái pháp luật; văn bản cá biệt; văn bản có giá trị pháp lý khác do cơ quan có thẩm quyền quyết định; các Điều ước quốc tế có hiệu lực đối với Việt Nam. Phụ trương Công báo được dùng để đăng các dự thảo văn bản pháp luật nhằm lấy ý kiến đóng góp của nhân dân và các tổ chức.
- Trên Công báo cấp tỉnh: Đăng các văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện; quyết định xử lý văn bản trái pháp luật, văn bản cá biệt hoặc văn bản có giá trị pháp lý khác do Chủ tịch UBND cấp tỉnh, cấp huyện quyết định. Ngoài ra, Công báo cấp tỉnh được phép đăng lại các văn bản pháp luật của Trung ương có liên quan trực tiếp đến địa phương.
Giá trị pháp lý và thời điểm có hiệu lực của văn bản trên Công báo
- Giá trị pháp lý: Văn bản đăng trên Công báo có giá trị tương đương văn bản gốc. Đây là văn bản chính thức duy nhất (cùng với văn bản gốc) được dùng để đối chiếu và sử dụng trong mọi trường hợp có sự khác biệt hoặc tranh chấp pháp lý. Các văn bản do các nhà xuất bản hoặc cơ quan thông tin đại chúng khác in ấn chỉ có giá trị tham khảo.
- Hiệu lực của văn bản Trung ương: Văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan Trung ương (Chính phủ, Thủ tướng, Bộ trưởng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao...) có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo, hoặc muộn hơn nếu được quy định cụ thể trong văn bản đó.
- Trường hợp đặc biệt: Văn bản quy phạm pháp luật áp dụng trong tình trạng khẩn cấp của Chính phủ, Thủ tướng, Bộ trưởng và UBND cấp tỉnh có hiệu lực ngay tại thời điểm quy định trong văn bản, không phụ thuộc vào ngày đăng Công báo.
- Hiệu lực văn bản cá biệt và Điều ước quốc tế: Thời điểm có hiệu lực do cơ quan ban hành quyết định hoặc theo thỏa thuận quốc tế, không phụ thuộc vào ngày đăng Công báo.
- Hiệu lực văn bản cấp tỉnh: Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật đăng trên Công báo cấp tỉnh không phụ thuộc vào ngày đăng Công báo.
Thủ tục gửi, tiếp nhận và đăng ký văn bản
- Thời hạn gửi văn bản: Các cơ quan ban hành văn bản ở Trung ương và cấp tỉnh phải gửi văn bản đến cơ quan Công báo chậm nhất là 2 ngày kể từ ngày ban hành.
- Yêu cầu về văn bản gửi đăng: Phải là văn bản gốc hoặc bản sao y bản chính (có chữ ký và dấu xác nhận của người có thẩm quyền). Bản in hoặc bản điện tử phải ghi rõ dòng chữ "Công báo" hoặc "Văn bản gửi đăng Công báo" tại phần nơi nhận hoặc phiếu gửi.
- Quy trình tiếp nhận: Cơ quan Công báo phải đăng ký văn bản vào "Sổ đăng ký và đối chiếu văn bản đăng Công báo", tiến hành phân loại, hệ thống hóa và lưu trữ đầy đủ để phục vụ tra cứu.
Trách nhiệm của các cơ quan trong hoạt động Công báo
- Trách nhiệm của cơ quan ban hành: Đảm bảo gửi văn bản đầy đủ, đúng thời hạn. Người đứng đầu cơ quan ban hành chịu trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc và chịu trách nhiệm pháp lý về tính chính xác của văn bản gửi đi, cũng như việc chậm trễ hoặc không gửi văn bản.
- Trách nhiệm của cơ quan Công báo: Tiếp nhận, đăng ký và đăng văn bản theo thứ tự thời gian nhận (văn bản đến trước đăng trước). Thời hạn đăng tối đa là 15 ngày kể từ ngày nhận văn bản. Cơ quan Công báo phải chịu trách nhiệm nếu không đăng, đăng thiếu, đăng sai hoặc đăng chậm trễ; đồng thời có quyền trả lại văn bản nếu phát hiện sai sót về nội dung hoặc thủ tục pháp lý.
- Quy định về đính chính: Nếu phát hiện sai sót sau khi đăng Công báo, việc đính chính phải được thực hiện bằng văn bản do người đứng đầu cơ quan có lỗi (cơ quan ban hành hoặc cơ quan Công báo) ký xác nhận.
Hoạt động xuất bản, phát hành và quản lý nhà nước
- Xuất bản và phát hành: Công báo được phát hành rộng rãi đến các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang, doanh nghiệp và người dân (kể cả cá nhân, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam). Công báo có thể được phát hành ra nước ngoài và dịch ra tiếng nước ngoài (bản dịch chỉ có giá trị tham khảo).
- Kinh phí hoạt động: Nhà nước bảo đảm kinh phí hàng năm cho hoạt động xuất bản Công báo thông qua dự toán ngân sách. Một số đối tượng được cấp Công báo miễn phí theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Cơ quan Công báo được phép thu phí từ việc phát hành để bù đắp một phần chi phí.
- Quản lý nhà nước: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về Công báo. Văn phòng Chính phủ giúp Chính phủ quản lý toàn diện cơ quan Công báo Trung ương và hướng dẫn nghiệp vụ cho cơ quan Công báo cấp tỉnh. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý và quyết định việc in ấn, phát hành Công báo tại địa phương.
Khen thưởng, xử lý vi phạm, khiếu nại và tố cáo
- Khen thưởng và xử lý vi phạm: Tổ chức, cá nhân thực hiện xuất sắc các quy định sẽ được khen thưởng. Ngược lại, hành vi vi phạm quy định về hoạt động Công báo sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo tính chất và mức độ vi phạm.
- Khiếu nại và tố cáo: Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại; cá nhân có quyền tố cáo các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động Công báo. Thẩm quyền, trình tự và thủ tục giải quyết được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm thực hiện
Nghị định 104/2004/NĐ-CP có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Tất cả các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ.
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý hoạt động của cơ quan Công báo Trung ương và hướng dẫn, kiểm tra cơ quan Công báo cấp tỉnh. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý hoạt động Công báo tại địa phương. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 104/2004/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 23 tháng 3 năm 2004 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12 tháng 11 năm 1996, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16 tháng 12 năm 2002;
Căn cứ Nghị định số 18/2003/NĐ-CP, ngày 20 tháng 2 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ;
Theo đề nghị của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1. Đối tượng, phạm vi điều chỉnh của Nghị định
Nghị định này quy định vị trí, chức năng của Công báo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau đây gọi là Công báo); nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động của cơ quan Công báo; thủ tục gửi, tiếp nhận và đăng văn bản pháp luật trên Công báo; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với việc đăng văn bản pháp luật trên Công báo.
Điều 2. Vị trí, chức năng của Công báo
1. Công báo là ấn phẩm thông tin pháp lý chính thức của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Chính phủ thống nhất quản lý; có chức năng công bố các văn bản pháp luật và thời điểm có hiệu lực của các văn bản đó theo quy định của pháp luật, các Điều ước quốc tế đã có hiệu lực đối với nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ các Điều ước quốc tế các bên thoả thuận không công bố hoặc không được phép công bố theo quyết định của các cơ quan có thẩm quyền; thông tin, phổ biến văn bản pháp luật do các cơ quan, tổ chức và người có thẩm quyền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành (sau đây gọi tắt là cơ quan có thẩm quyền).
2. Công báo được xuất bản ở Trung ương và ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là cấp tỉnh); được phát hành rộng rãi cho mọi đối tượng sử dụng.
3. Công báo bao gồm: Công báo in và Công báo điện tử. Công báo xuất bản ở Trung ương có Phụ trương Công báo.
Thủ tướng Chính phủ quy định riêng về hoạt động của Công báo điện tử.
1. Cơ quan Công báo bao gồm cơ quan Công báo ở Trung ương và cơ quan Công báo ở cấp tỉnh, là cơ quan được giao nhiệm vụ tiếp nhận, đăng ký, hệ thống, lưu trữ, phổ biến văn bản pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền ban hành gửi đến; tổ chức xuất bản, phát hành Công báo.
2. Cơ quan Công báo ở Trung ương tổ chức việc tiếp nhận, đăng ký, hệ thống, lưu trữ, phổ biến văn bản pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương ban hành; tổ chức xuất bản, phát hành tờ Công báo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
3. Cơ quan Công báo ở cấp tỉnh tổ chức việc tiếp nhận, đăng ký, hệ thống, lưu trữ, phổ biến văn bản pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền ở cấp tỉnh, cấp huyện ban hành; tổ chức xuất bản, phát hành tờ Công báo trong phạm vi địa phương mình.
Điều 4. Nguyên tắc đăng văn bản trên Công báo
1. Công báo đăng toàn văn, chính xác, đầy đủ, kịp thời các văn bản pháp luật do cơ quan có thẩm quyền ban hành.
2. Công báo không đăng các văn bản bí mật nhà nước thuộc danh mục bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật.
Điều 5. Các văn bản đăng trên Công báo ở Trung ương
1. Các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương ban hành.
2. Các quyết định của cơ quan có thẩm quyền xử lý văn bản trái pháp luật; các văn bản cá biệt; văn bản có giá trị pháp lý khác do cơ quan có thẩm quyền quyết định.
3. Các Điều ước quốc tế đã có hiệu lực đối với nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam như quy định tại
Điều 6. Các văn bản đăng trên Công báo xuất bản ở cấp tỉnh
1. Các văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện ban hành.
2. Các quyết định của cơ quan có thẩm quyền xử lý các văn bản trái pháp luật; các văn bản cá biệt; văn bản có giá trị pháp lý khác do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện quyết định.
Điều 7. Giá trị pháp lý và thời điểm có hiệu lực của văn bản đăng trên Công báo
1. Văn bản pháp luật đăng trên Công báo có cùng giá trị với văn bản gốc; là văn bản chính thức duy nhất cùng văn bản gốc dùng để đối chiếu và sử dụng trong mọi trường hợp khi có sự khác biệt giữa văn bản đăng trên Công báo và văn bản có từ các nguồn khác hoặc khi có sự tranh chấp pháp lý.
2. Các văn bản pháp luật do các nhà xuất bản, các cơ quan thông tin đại chúng in, xuất bản không có cùng giá trị pháp lý như khi được đăng trên Công báo mà chỉ có giá trị tham khảo.
3. Thời điểm có hiệu lực của các văn bản quy phạm pháp luật là thời điểm được quy định tại Điều 75 của Luật Sửa đổi , bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2002.
Thời điểm có hiệu lực của các văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ban hành và các văn bản quy phạm pháp luật liên tịch ban hành là sau mười lăm ngày, kể từ ngày đăng Công báo hoặc có hiệu lực muộn hơn nếu được quy định tại văn bản đó.
Đối với văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành để áp dụng các biện pháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp thì thời điểm có hiệu lực được quy định ngay tại văn bản đó, không phụ thuộc vào ngày đăng Công báo.
4. Thời điểm có hiệu lực của các văn bản cá biệt và các văn bản có giá trị pháp lý khác do cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quyết định ngay tại văn bản đó, không phụ thuộc vào ngày đăng Công báo.
Thời điểm có hiệu lực của các Điều ước quốc tế đối với nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xác định theo thoả thuận của các bên hoặc theo các quy định của pháp luật về ký kết và thực hiện Điều ước quốc tế và được ghi trong văn bản sao lục Điều ước quốc tế.
5. Thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật đăng trên Công báo cấp tỉnh không phụ thuộc vào ngày đăng Công báo.
THỜI HẠN VÀ THỦ TỤC GỬI, TIẾP NHẬN, ĐĂNG KÝ VĂN BẢN ĐỂ ĐĂNG CÔNG BÁO
Điều 8. Thời hạn gửi văn bản để đăng Công báo
1. Văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở Trung ương ban hành phải được gửi đến cơ quan Công báo Trung ương chậm nhất là hai ngày kể từ ngày ban hành, để đăng Công báo.
2. Văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành phải gửi đến cơ quan Công báo cấp tỉnh chậm nhất là hai ngày, kể từ ngày ban hành, để đăng Công báo.
3. Cơ quan Công báo phải tiếp nhận đầy đủ, đúng thủ tục pháp luật các văn bản do các cơ quan ban hành gửi đến theo thời hạn quy định trên đây để đăng Công báo.
Điều 9. Thủ tục gửi, tiếp nhận, đăng ký văn bản để đăng Công báo
1. Văn bản gửi đăng Công báo phải là văn bản gốc.
2. Trường hợp văn bản gửi đăng Công báo là bản sao thì phải đúng với bản gốc hoặc được chụp từ bản gốc, có dấu và chữ ký xác nhận của người có thẩm quyền đã ký văn bản hoặc người được uỷ quyền.
3. Văn bản gửi đăng Công báo là bản in hoặc bản gửi qua mạng điện tử phải có nội dung đúng với bản gốc, phần Nơi nhận phải ghi dòng chữ "Công báo", hoặc ghi trên phiếu gửi văn bản dòng chữ " Văn bản gửi đăng Công báo", ghi rõ ngày, tháng, năm gửi.
4. Các văn bản gửi đến cơ quan Công báo phải được đăng ký vào "Sổ đăng ký và đối chiếu văn bản đăng Công báo".
5. Cơ quan Công báo phải lưu trữ đầy đủ các văn bản pháp luật do các cơ quan có thẩm quyền gửi đến và phân loại theo hệ thống để tiện việc tra cứu, sử dụng.
TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN BAN HÀNH VĂN BẢN ĐỐI VỚI VIỆC ĐĂNG VĂN BẢN TRÊN CÔNG BÁO
1. Cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản hoặc cơ quan được cơ quan ban hành văn bản uỷ quyền có trách nhiệm gửi đầy đủ, đúng thời hạn các văn bản đã ban hành tới cơ quan Công báo theo quy định tại
2. Người đứng đầu các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản hoặc cơ quan được cơ quan ban hành văn bản uỷ quyền phải chịu trách nhiệm kiểm tra, đôn đốc việc gửi văn bản cho cơ quan Công báo và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của văn bản, về việc không gửi, gửi không đầy đủ hoặc gửi không đúng thời hạn các văn bản để đăng Công báo.
Điều 11. Trách nhiệm của cơ quan Công báo trong việc đăng văn bản
1. Tiếp nhận, vào "Sổ đăng ký và đối chiếu văn bản đăng Công báo" tất cả văn bản do các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản hoặc cơ quan được cơ quan ban hành văn bản uỷ quyền gửi đến.
2. Công báo đăng các văn bản theo trình tự: văn bản đến trước đăng trước, đến sau đăng sau theo số thứ tự đã đăng ký tại "Sổ đăng ký và đối chiếu văn bản đăng Công báo". Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật do các Bộ, cơ quan ngang Bộ ban hành có quy định các nội dung điều chỉnh hoặc quyết định các biện pháp, chính sách quan trọng phải áp dụng kịp thời, được người đứng đầu cơ quan ban hành văn bản yêu cầu bằng văn bản thì được đăng Công báo ngay để bảo đảm thời điểm có hiệu lực của văn bản đó.
3. Chậm nhất sau mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được văn bản, phải đăng văn bản trên Công báo.
4. Chịu trách nhiệm về việc không đăng, đăng không đúng, đăng không đầy đủ hoặc đăng chậm những văn bản đã nhận được.
5. Hệ thống, lưu trữ, phổ biến, cung cấp các văn bản đã đăng Công báo.
6. Trả lại cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản khi phát hiện văn bản đó có sai sót về nội dung và thủ tục pháp lý trong việc ban hành và việc gửi văn bản để đăng Công báo.
Điều 12. Đính chính văn bản trên Công báo
Các văn bản sau khi được đăng trên Công báo, nếu phát hiện có sai sót thì phải được đính chính:
1. Nếu sai sót thuộc trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản thì người đứng đầu hoặc người được uỷ quyền của cơ quan đó phải ký văn bản đính chính.
2. Nếu sai sót thuộc trách nhiệm của cơ quan Công báo ở Trung ương thì văn bản đính chính do người đứng đầu cơ quan Công báo Trung ương hoặc người được uỷ quyền ký văn bản đính chính.
3. Nếu sai sót thuộc trách nhiệm của cơ quan Công báo ở cấp tỉnh thì văn bản đính chính do người phụ trách cơ quan Công báo cấp tỉnh hoặc người được uỷ quyền ký văn bản đính chính.
TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG BÁO
1. Cơ quan Công báo Trung ương là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Văn phòng Chính phủ; có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng.
2. Cơ quan Công báo cấp tỉnh thuộc Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Tổ chức cơ quan Công báo cấp tỉnh do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định.
Điều 14. Hoạt động xuất bản, phát hành Công báo
1. Cơ quan Công báo Trung ương và cơ quan Công báo cấp tỉnh tổ chức xuất bản, phát hành rộng rãi tờ Công báo trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang và trong nhân dân, kể cả cá nhân, tổ chức, cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam.
2. Nhà nước bảo đảm kinh phí hàng năm cho hoạt động xuất bản Công báo. Kinh phí hàng năm cho hoạt động xuất bản Công báo được dự toán và cấp phát theo quy định của pháp luật hiện hành.
3. Tờ Công báo được cấp không thu tiền cho một số đối tượng do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Cơ quan Công báo được phép thu từ hoạt động xuất bản, phát hành ấn phẩm Công báo để bù đắp một phần chi từ ngân sách cho hoạt động này.
4. Tờ Công báo được phát hành thông qua cơ quan Công báo, doanh nghiệp bưu chính, các đại lý và các cá nhân.
5. Công báo được phát hành ra nước ngoài và được dịch ra tiếng nước ngoài. Bản dịch chỉ có giá trị tham khảo.
Điều 15. Quản lý nhà nước về Công báo
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về Công báo.
2. Nội dung quản lý nhà nước về Công báo bao gồm:
a) Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển Công báo.
b) Ban hành văn bản pháp luật làm cơ sở cho hoạt động của Công báo.
c) Hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định về hoạt động xuất bản, phát hành Công báo.
d) Khen thưởng, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến hoạt động của Công báo.
Văn phòng Chính phủ giúp Chính phủ hướng dẫn hoạt động của cơ quan Công báo cấp tỉnh.
KHEN THƯỞNG, KỶ LUẬT VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
Nghị định này có hiệu lực sau mười lăm ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý hoạt động của cơ quan Công báo ở địa phương mình.
2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
- 1 Thông tư 03/2006/TT-VPCP hướng dẫn thi hành Nghị định 104/2004/NĐ-CP về Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với tổ chức và hoạt động của Công báo cấp tỉnh do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 2 Thông tư 04/2005/TT-VPCP hướng dẫn Nghị định 104/2004/NĐ-CP về Công báo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với hoạt động của Công báo ở Trung ương do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 1 Công văn số 14359/BTC-VP của Bộ Tài chính về việc đăng Công báo
- 2 Quyết định 27/2006/QĐ-BGTVT sửa đổi Quyết định 74/2005/QĐ-BGTVT về Quy trình tín hiệu đường sắt do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành
- 3 Quyết định 200-TTg năm 1992 về việc xuất bản và phát hành Công báo Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 4 Thông tư 145-BT năm 1992 hướng dẫn xuất bản và phát hành Công báo Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Văn phòng chính phủ ban hành
- 5 Quyết định 69/1998/QĐ-TTg về việc phát hành Công báo Việt Nam cho cấp xã, phường, thị trấn do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 6 Nghị định 100/2010/NĐ-CP về Công báo
- 1 Công văn số 14359/BTC-VP của Bộ Tài chính về việc đăng Công báo
- 2 Thông tư 03/2006/TT-VPCP hướng dẫn thi hành Nghị định 104/2004/NĐ-CP về Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với tổ chức và hoạt động của Công báo cấp tỉnh do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 3 Quyết định 27/2006/QĐ-BGTVT sửa đổi Quyết định 74/2005/QĐ-BGTVT về Quy trình tín hiệu đường sắt do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành
- 4 Quyết định 200-TTg năm 1992 về việc xuất bản và phát hành Công báo Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 5 Thông tư 145-BT năm 1992 hướng dẫn xuất bản và phát hành Công báo Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Văn phòng chính phủ ban hành
- 6 Luật Ban hành Văn bản quy phạm pháp luật 1996
- 7 Quyết định 69/1998/QĐ-TTg về việc phát hành Công báo Việt Nam cho cấp xã, phường, thị trấn do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 8 Luật Tổ chức Chính phủ 2001
- 9 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2002
- 10 Nghị định 18/2003/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ
- 11 Thông tư 04/2005/TT-VPCP hướng dẫn Nghị định 104/2004/NĐ-CP về Công báo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với hoạt động của Công báo ở Trung ương do Văn phòng Chính phủ ban hành