Nghị định số 11-HĐBT do Hội đồng Bộ trưởng ban hành năm 1988 kèm theo Điều lệ kiểm soát sát sinh gia súc, gia cầm nhằm thiết lập các nguyên tắc, thủ tục và biện pháp kiểm soát hoạt động giết mổ, bảo đảm vệ sinh thú y, an toàn thực phẩm và ngăn ngừa dịch bệnh lây lan.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Điều lệ này quy định các nguyên tắc, thủ tục và biện pháp về kiểm soát sát sinh gia súc, gia cầm trên phạm vi cả nước. Đối tượng áp dụng bao gồm các tổ chức, cá nhân thực hiện việc giết mổ, chế biến, bảo quản, vận chuyển và kinh doanh gia súc, gia cầm hoặc các sản phẩm từ gia súc, gia cầm; cùng các cán bộ thú y, cơ quan quản lý nhà nước có liên quan trong lĩnh vực thú y và vệ sinh an toàn thực phẩm.
Nội dung cốt lõi của Điều lệ kiểm soát sát sinh gia súc, gia cầm
1. Tiêu chuẩn đối với cán bộ thú y và nhân viên làm việc tại lò sát sinh
- Cán bộ thực hiện nhiệm vụ kiểm soát sát sinh tại các lò sát sinh phải có trình độ chuyên môn là bác sĩ thú y hoặc trung cấp thú y, do thủ trưởng cơ quan thú y cấp trên quyết định bổ nhiệm.
- Cán bộ quản lý, cán bộ thú y và công nhân trực tiếp tham gia vào quá trình giết mổ, chế biến, bảo quản thịt phải bảo đảm không mắc các bệnh truyền nhiễm và phải thực hiện khám sức khỏe định kỳ theo quy định của Bộ Y tế.
- Trong quá trình làm việc, người lao động phải được trang bị đầy đủ bảo hộ lao động và được hưởng các chế độ bồi dưỡng độc hại theo quy chế của Nhà nước.
2. Trách nhiệm của cơ sở sát sinh và quy định xử lý gia súc bệnh
- Các cơ sở phụ trách lò sát sinh, chế biến và bảo quản thực phẩm có nguồn gốc từ gia súc, gia cầm phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về vệ sinh thú y và chịu sự giám sát trực tiếp từ cơ quan thú y cùng cấp.
- Gia súc, gia cầm trước và sau khi giết mổ nếu phát hiện bị nhiễm bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng hoặc các bệnh lý khác phải được xử lý nghiêm ngặt theo đúng quy định của Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm.
- Chủ gia súc, gia cầm có nghĩa vụ nộp lệ phí kiểm soát sát sinh với mức phí bằng 0,5% giá trị của con vật giết mổ, tính theo giá kinh doanh thương nghiệp tại địa phương.
3. Quy định về vệ sinh thú y đối với việc xây dựng và quản lý lò sát sinh
- Việc lựa chọn địa điểm và trang bị lò sát sinh phải tuân thủ các nguyên tắc: bảo đảm sức khỏe cho cư dân xung quanh khu vực lò sát sinh, bảo đảm chất lượng sản phẩm sau giết mổ và ngăn ngừa tuyệt đối việc lây lan dịch bệnh gia súc ra môi trường ngoài.
- Phân cấp quản lý lò sát sinh: Các lò sát sinh cấp tỉnh, thành phố, huyện, quận, thị xã do cơ quan kinh doanh thực phẩm xây dựng và quản lý; các cơ sở, xí nghiệp phục vụ xuất khẩu do cơ quan kinh doanh xuất khẩu các mặt hàng đó xây dựng và trực tiếp quản lý; các lò mổ cấp xã do Ủy ban nhân dân xã xây dựng và quản lý.
- Cơ quan thú y các cấp có trách nhiệm hướng dẫn, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện các tiêu chuẩn vệ sinh thú y trong xây dựng lò mổ, quy trình giết mổ và các khâu trong dây chuyền chế biến.
4. Quy định vệ sinh thú y đối với gia súc, gia cầm trước và sau giết mổ
- Gia súc, gia cầm đưa vào giết mổ phải khỏe mạnh, không bị dịch bệnh hoặc nghi ngờ nhiễm dịch bệnh. Riêng trâu, bò giết mổ phải bảo đảm các tiêu chuẩn quy định tại Nghị quyết số 357-CP ngày 3-10-1979 của Hội đồng Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi trâu, bò.
- Để bảo đảm phẩm chất thực phẩm, gia súc, gia cầm vận chuyển từ khoảng cách từ 50 km trở lên phải được đưa đến lò sát sinh trước ít nhất 12 giờ để theo dõi và phải có giấy chứng nhận kiểm dịch động vật (do bác sĩ thú y kiểm dịch động vật cấp) hoặc giấy chứng nhận vệ sinh thú y (do cán bộ thú y cơ sở cấp).
- Sau khi giết mổ, thịt và phủ tạng phải được cán bộ thú y kiểm tra ngay theo đúng quy trình kỹ thuật của Cục Thú y. Trường hợp phát hiện dịch bệnh, cán bộ thú y phải báo cáo ngay cho cơ quan cấp trên và thông báo cho địa phương, cơ sở xuất phát của con vật để phối hợp ngăn chặn dịch bệnh lây lan.
5. Quy định về giết mổ, lưu chuyển và bảo quản thịt, phủ tạng
- Dụng cụ dùng để giết mổ phải được làm sạch và diệt trùng trước cũng như sau khi sử dụng; nguồn nước dùng tại lò sát sinh phải bảo đảm trong sạch và vệ sinh.
- Nghiêm cấm việc đựng chung thịt và phủ tạng trong cùng một dụng cụ. Thịt và phủ tạng phải được để ráo nước.
- Dụng cụ chứa đựng phải làm bằng vật liệu không thấm nước, không han rỉ, được cọ rửa sạch sẽ, diệt trùng trước và sau khi sử dụng, đồng thời phải có nắp đậy hoặc vải che để ngăn ngừa ruồi nhặng, đất bụi bám vào.
- Khi vận chuyển đường xa, phải sử dụng các phương tiện chuyên dùng có trang bị hệ thống làm lạnh hoặc thùng chứa nước đá để bảo quản sản phẩm trong điều kiện thích hợp. Kho bảo quản phải duy trì nhiệt độ, độ ẩm tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm.
6. Chế tài xử lý vi phạm và chính sách khen thưởng
- Các hành vi vi phạm bị xử lý bao gồm: giết mổ và tiêu thụ thịt không qua kiểm soát thú y; bán thịt không có dấu kiểm soát trên thị trường; lưu thông thịt hoặc phủ tạng từ gia súc bệnh, kém phẩm chất chưa qua xử lý; vận hành lò sát sinh và cơ sở bảo quản không bảo đảm vệ sinh thú y.
- Hình thức xử lý: Vi phạm lần đầu và chưa gây hậu quả nghiêm trọng sẽ bị cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 5% đến 10% giá trị tang vật (tính theo giá con vật hoặc thịt lành mạnh). Trường hợp gây thiệt hại lớn đến đàn gia súc hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người tiêu dùng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự và phải bồi thường thiệt hại.
- Thẩm quyền xử phạt: Cán bộ phụ trách bộ phận kiểm soát sát sinh được quyền phạt đến 5% giá trị tang vật. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định mức phạt từ trên 5% đến 10% dựa trên đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cán bộ thú y làm nhiệm vụ. Toàn bộ tiền phạt phải nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Xử lý đối với cán bộ thú y: Cán bộ thú y không thực hiện đúng chức trách, lợi dụng chức quyền gây phiền hà hoặc thiệt hại cho nhân dân và Nhà nước sẽ bị xử lý kỷ luật từ khiển trách, cảnh cáo, tước bằng chuyên môn, bồi thường thiệt hại cho đến truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Chính sách khen thưởng: Tổ chức, cá nhân có công phát hiện các hành vi vi phạm Điều lệ kiểm soát sát sinh sẽ được khen thưởng bằng tiền với mức từ 20% đến 30% số tiền phạt thu được.
Hiệu lực thi hành
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện thống nhất Điều lệ này trên phạm vi toàn quốc.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| SỐ 11-HĐBT | Hà Nội, ngày 6 tháng 02 năm 1988 |
CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 11-HĐBT NGÀY 6-2-1988 BAN HÀNH ĐIỀU LỆ KIỂM SOÁT SÁT SINH GIA SÚC, GIA CẦM
HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4 tháng 7 năm 1981;
Đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm ngăn ngừa dịch bệnh gia súc, gia cầm lây sang người và phòng ngừa, ngăn chặn việc lây lan dịch bệnh gia súc, gia cầm;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm,
NGHỊ ĐỊNH :
Điều 1. Nay ban hành kèm theo Nghị định này bản Điều lệ kiểm soát sát sinh gia súc, gia cầm.
| Võ Văn Kiệt (Đã ký) |
KIỂM SOÁT SÁT SINH GIA SÚC, GIA CẦM
(Ban hành kèm theo Nghị định số 11-HĐBT ngày 6-2-1988 của Hội đồng Bộ trưởng)
1. Bảo vệ sức khoẻ cho người khi sử dụng các thực phẩm chế biến từ nguồn gốc gia súc, gia cầm.
2. Kịp thời phát hiện và ngăn chặn dịch bệnh gia súc, gia cầm lây lan qua khâu giết mổ.
3. Ngăn ngừa nạn lạm sát gia súc, bảo đảm thực hiện đúng các tiêu chuẩn gia súc được phép giết mổ.
Điều 2. Đối tượng kiểm soát sát sinh bao gồm:
a) Các loại gia súc như trâu, bò, lợn, ngựa, dê... Riêng đối với gia cầm thì việc kiểm soát sát sinh chỉ tiến hành khi tập trung giết mổ với số lượng lớn để chế biến, xuất khẩu v.v...(dưới đây gọi chung là gia súc, gia cầm).
b) Các lò sát sinh, dụng cụ và các phương tiện dùng vào việc giết mổ và chứa đựng, vận chuyển thịt và phủ tạng gia súc, gia cầm.
c) Các cơ sở chế biến và bảo đảm sản phẩm từ nguồn gốc gia súc, gia cầm.
Cán bộ công tác ở lò sát sinh, cán bộ thú y và công nhân trực tiếp giết mổ, chế biến, bảo quản thịt phải là những người không mắc bệnh truyền nhiễm và phải định kỳ kiểm tra sức khoẻ theo quy định của Bộ Y tế. Trong thời gian làm việc phải có trang bị phòng hộ lao động và được hưởng chế độ bồi dưỡng độc hại theo quy chế của Nhà nước.
QUY ĐỊNH VỀ VỆ SINH THÚ Y ĐỐI VỚI LÒ SÁT SINH
Điều 9. Việc chọn địa điểm xây dựng và trang bị lò sát sinh phải đạt được các nguyên tắc sau đây:
1. Bảo đảm sức khoẻ cho nhân dân xung quanh khu vực lò sát sinh;
2. Bảo đảm chất lượng sản phẩm sau khi giết mổ;
3. Không để dịch bệnh gia súc từ lò sát sinh lây lan ra ngoài.
Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm và Bộ Y tế quy định cụ thể những điều kiện về vệ sinh trong việc chọn địa điểm và xây dựng lò sát sinh.
Các lò mổ ở xã do Uỷ ban nhân dân xã xây dựng và quản lý.
Cơ quan thú y các cấp có nhiệm vụ hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các quy định về vệ sinh thú y trong việc xây dựng lò sát sinh, quy trình giết mổ và các khâu trong dây chuyền chế biến.
QUY ĐỊNH VỀ VỆ SINH THÚ Y ĐỐI VỚI GIA SÚC, GIA CẦM GIẾT MỔ
Để bảo đảm phẩm chất thực phẩm, những gia súc, gia cầm vận chuyển từ những nơi cách xa từ 50 kilômét trở lên thì phải đưa đến lò sát sinh ít nhất 12 giờ trước lúc giết mổ và phải có giấy chứng nhận kiểm dịch động vật (do bác sĩ thú y kiểm dịch động vật cấp) hoặc giấy chứng nhận vệ sinh thú y (do cán bộ thú y cơ sở cấp).
Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm quy định cụ thể những bệnh và những trường hợp không được phép giết mổ gia súc, gia cầm.
Khi phát hiện gia súc, gia cầm đưa đến lò sát sinh bị nhiễm hoặc nghi nhiễm dịch bệnh thì cán bộ thú y làm công tác kiểm soát sát sinh phải báo cáo ngay cho cơ quan thú y cấp trên và thông báo cho địa phương, cơ sở có gia súc, gia cầm xuất phát biết, đồng thời áp dụng các biện pháp tích cực và chủ động nhằm ngăn chặn có hiệu quả dịch bệnh lây lan.
Người chủ có gia súc, gia cầm bị nhiễm hoặc nghi nhiễm dịch bệnh phải thực hiện đầy đủ các biện pháp vệ sinh thú y theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm.
1. Dụng cụ dùng để giết mổ gia súc, gia cầm phải sạch sẽ, diệt trùng trước và sau khi giết mổ. Nguồn nước ở lò sát sinh phải trong sạch, bảo đảm vệ sinh.
2. Không được đựng chung thịt và phủ tạng trong một dụng cụ. Thịt và phủ tạng phải ráo nước.
3. Dụng cụ đựng thịt, phủ tạng phải làm bằng nguyên liệu không thấm nước, không han rỉ, được cọ rửa sạch sẽ, diệt trùng trước và sau khi sử dụng, miệng thùng phải có nắp đậy hoặc vải che đậy để tránh ruồi, nhặng, đất bụi bám trên mặt thịt, phủ tạng.
4. Thịt, phủ tạng lưu chuyển đường xa phải có xe chuyên dùng có thiết bị làm lạnh hoặc trong thùng xe có nước đá để bảo quản thịt, phủ tạng, thực phẩm trong điều kiện thích hợp.
Giết mổ và tiêu thụ thịt gia súc, gia cầm không qua kiểm soát của cơ quan thú y;
Thịt bán ở ngoài thị trường không có dấu kiểm soát sát sinh đóng trên thân thịt;
Thịt và phủ tạng gia súc ốm hoặc kém phẩm chất chưa qua xử lý đưa ra ngoài lò sát sinh hoặc bán trên thị trường;
Lò sát sinh và cơ sở bảo quản chế biến sản phẩm từ nguồn gốc gia súc, gia cầm không theo đúng quy định vệ sinh thú y.
Trường hợp vi phạm lần đầu, chưa gây tác hại lớn thì cảnh cáo trong phường, xã hoặc phạt tiền từ 5% đến 10% giá trị tang vật tính theo giá con vật hoặc thịt trong trạng thái lành mạnh. Tang vật phải giữ lại để kiểm nghiệm và xử lý theo quy định của Bộ Nông và Công nghiệp thực phẩm.
Trường hợp vi phạm gây thiệt hại lớn đến đàn gia súc của Nhà nước và nhân dân hoặc làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của người tiêu dùng thì bị truy cứu theo Luật Hình sự và phải bồi thường thiệt hại. Tang vật phải giữ lại kiểm nghiệm và xử lý theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm.
Cán bộ phụ trách bộ phận kiểm soát sát sinh được quyền phạt 5% giá trị tang vật.
Uỷ ban Nhân dân huyện, quận căn cứ vào đề nghị của Uỷ ban Nhân dân xã, phường, cán bộ thú y đang làm nhiệm vụ để quyết định mức phạt từ trên 5% đến 10% giá trị tang vật.
Tiền phạt nộp vào ngân sách Nhà nước.