Nghị định số 110/2010/NĐ-CP do Chính phủ ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 111/2005/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định số 11/2009/NĐ-CP) hướng dẫn thi hành Luật Xuất bản, tập trung vào việc cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến điều kiện, hồ sơ và quy trình cấp giấy phép hoạt động kinh doanh nhập khẩu cũng như đăng ký nhập khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh.
Đối tượng áp dụng của Nghị định bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản, các cơ sở kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm, người đứng đầu các cơ sở kinh doanh này, đội ngũ nhân viên thẩm định nội dung sách, cùng các tổ chức và cá nhân khác có liên quan đến hoạt động nhập khẩu xuất bản phẩm tại Việt Nam.
Điều kiện cấp giấy phép hoạt động kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm
Nghị định quy định chi tiết các điều kiện bắt buộc mà cơ sở kinh doanh phải đáp ứng để được cấp giấy phép hoạt động kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm, cụ thể bao gồm:
- Phải có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đầu tư theo đúng quy định của pháp luật về doanh nghiệp và đầu tư.
- Người đứng đầu cơ sở kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm phải đáp ứng đồng thời các tiêu chuẩn: thường trú tại Việt Nam; có văn bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành phát hành xuất bản phẩm. Trong trường hợp tốt nghiệp đại học các chuyên ngành khác, người đứng đầu bắt buộc phải có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ phát hành xuất bản phẩm do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp.
- Đối với trường hợp kinh doanh nhập khẩu riêng mặt hàng sách, ngoài các điều kiện chung nêu trên, cơ sở kinh doanh phải có ít nhất 05 (năm) nhân viên chuyên trách thẩm định nội dung sách. Đội ngũ nhân viên thẩm định này phải có thâm niên công tác trong lĩnh vực xuất bản từ 05 (năm) năm trở lên, sở hữu kiến thức chuyên môn nghiệp vụ vững vàng và có bằng tốt nghiệp đại học trở lên thuộc chuyên ngành ngoại ngữ phù hợp với phần lớn số lượng sách dự kiến nhập khẩu.
Hồ sơ, trình tự và cách thức đề nghị cấp giấy phép hoạt động kinh doanh nhập khẩu
Quy trình nộp và giải quyết hồ sơ đề nghị cấp giấy phép được tối giản hóa nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp:
- Cơ sở kinh doanh lập 01 (một) bộ hồ sơ đề nghị cấp giấy phép và nộp trực tiếp hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính, chuyển phát đến Cục Xuất bản.
- Thành phần hồ sơ bao gồm: Đơn đề nghị cấp giấy phép theo mẫu quy định; Bản sao kèm bản chính để đối chiếu hoặc bản sao có chứng thực Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đầu tư; Bản sao có chứng thực văn bằng, chứng chỉ của người đứng đầu cơ sở kinh doanh; Danh sách nhân viên thẩm định nội dung sách theo mẫu (chỉ áp dụng đối với cơ sở kinh doanh nhập khẩu sách).
- Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm sửa đổi, bổ sung Mẫu đơn xin cấp giấy phép (Mẫu số 10) và Danh sách nhân viên, cộng tác viên thẩm định nội dung sách nhập khẩu (Mẫu số 11) ban hành kèm theo Thông tư số 02/2010/TT-BTTTT để bảo đảm tính tương thích với phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính theo Nghị quyết số 25/NQ-CP.
Quy định về đăng ký nhập khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh
Việc đăng ký danh mục xuất bản phẩm nhập khẩu để kinh doanh được thực hiện theo các bước chặt chẽ nhưng linh hoạt:
- Hồ sơ đăng ký được lập thành 01 (một) bộ, bao gồm: Giấy đăng ký nhập khẩu xuất bản phẩm và 03 (ba) bản danh mục xuất bản phẩm nhập khẩu theo mẫu quy định.
- Cơ sở kinh doanh nộp hồ sơ trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính, chuyển phát đến Cục Xuất bản. Nghị định cũng mở ra cơ chế đăng ký trực tuyến: khi Cục Xuất bản có hướng dẫn chính thức về việc đăng ký qua mạng Internet, các cơ sở kinh doanh có thể chủ động lựa chọn phương thức đăng ký điện tử tùy theo nhu cầu của mình.
- Trong quá trình thực hiện, nếu có bất kỳ sự thay đổi thông tin nào trong danh mục xuất bản phẩm nhập khẩu đã được xác nhận, cơ sở kinh doanh phải gửi văn bản báo cáo nội dung thay đổi, đồng thời tiến hành đăng ký thông tin mới với Cục Xuất bản để được xác nhận đăng ký bổ sung. Phương thức nộp văn bản báo cáo thay đổi cũng được thực hiện trực tiếp hoặc qua bưu chính, chuyển phát.
- Danh mục xuất bản phẩm nhập khẩu sau khi được Cục Xuất bản xác nhận đăng ký sẽ là căn cứ pháp lý duy nhất để cơ sở kinh doanh làm thủ tục thông quan với cơ quan hải quan. Xác nhận này có giá trị hiệu lực cho đến khi doanh nghiệp hoàn thành toàn bộ thủ tục nhập khẩu lô hàng.
- Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm điều chỉnh Giấy đăng ký danh mục xuất bản phẩm nhập khẩu để kinh doanh (Mẫu số 13) và Danh mục xuất bản phẩm nhập khẩu để kinh doanh (Mẫu số 14) ban hành kèm theo Thông tư số 02/2010/TT-BTTTT nhằm đáp ứng yêu cầu đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm tổ chức thực hiện
Nghị định số 110/2010/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 31 tháng 12 năm 2010. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, cùng Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành, phổ biến và hướng dẫn thực hiện nghiêm túc các quy định tại Nghị định này.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 110/2010/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 09 tháng 11 năm 2010 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Xuất bản ngày 03 tháng 12 năm 2004; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản ngày 03 tháng 6 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung
1.
“Điều 18c. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm
1. Điều kiện để được cấp giấy phép hoạt động kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm quy định tại khoản 2 Điều 38 Luật Xuất bản bao gồm:
a) Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, về đầu tư;
b) Người đứng đầu cơ sở kinh doanh phải thường trú tại Việt Nam; có văn bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành phát hành xuất bản phẩm; nếu tốt nghiệp đại học các chuyên ngành khác thì phải có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ phát hành xuất bản phẩm do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp;
c) Trường hợp kinh doanh nhập khẩu sách, ngoài các điều kiện quy định tại điểm a và điểm b khoản này, còn phải có ít nhất 05 (năm) nhân viên thẩm định nội dung sách. Nhân viên thẩm định nội dung sách phải có thâm niên công tác trong lĩnh vực xuất bản từ 05 (năm) năm trở lên, có kiến thức chuyên môn nghiệp vụ và có bằng đại học trở lên chuyên ngành ngoại ngữ phù hợp với phần lớn số sách nhập khẩu.”
2.
“Điều 18d. Hồ sơ, trình tự và cách thức đề nghị cấp giấy phép hoạt động kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm
1. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép quy định tại khoản 3 Điều 38 Luật Xuất bản được lập thành 01 (một) bộ, nộp qua dịch vụ bưu chính, chuyển phát hoặc nộp trực tiếp tại Cục Xuất bản, bao gồm:
a) Đơn đề nghị cấp giấy phép theo mẫu;
b) Bản sao kèm theo bản chính để đối chiếu hoặc bản sao có chứng thực giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đầu tư theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, về đầu tư; văn bằng, chứng chỉ của người đứng đầu cơ sở kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm;
c) Danh sách nhân viên thẩm định nội dung sách theo mẫu đối với trường hợp kinh doanh nhập khẩu sách.
2. Bộ Thông tin và Truyền thông sửa đổi, bổ sung Mẫu số 10 – Đơn xin cấp giấy phép hoạt động kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm và Mẫu số 11 – Danh sách nhân viên, cộng tác viên thẩm định nội dung sách nhập khẩu ban hành kèm theo Thông tư số 02/2010/TT-BTTTT ngày 11 tháng 01 năm 2010 để phù hợp với phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính quy định tại Nghị quyết số 25/NQ-CP ngày 02 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ.”
Điều 2. Sửa đổi, bổ sung
Điều 18 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 18. Đăng ký nhập khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh
1. Việc đăng ký nhập khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh thực hiện theo quy định tại Điều 39 Luật Xuất bản.
2. Hồ sơ, trình tự và cách thức thực hiện đăng ký nhập khẩu xuất bản phẩm để kinh doanh như sau:
a) Hồ sơ được lập thành 01 (một) bộ, bao gồm giấy đăng ký nhập khẩu xuất bản phẩm và 03 (ba) bản danh mục xuất bản phẩm nhập khẩu theo mẫu;
b) Cơ sở kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm nộp 01 (một) bộ hồ sơ qua dịch vụ bưu chính, chuyển phát hoặc nộp trực tiếp tại Cục Xuất bản. Khi có hướng dẫn của Cục Xuất bản về đăng ký nhập khẩu xuất bản phẩm qua mạng internet thì tùy theo nhu cầu mà cơ sở kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm thực hiện việc đăng ký nhập khẩu qua mạng internet;
c) Trường hợp có sự thay đổi thông tin trong danh mục xuất bản phẩm nhập khẩu đã được xác nhận đăng ký, cơ sở kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm phải có văn bản báo cáo về nội dung thông tin thay đổi, đồng thời đăng ký những thông tin mới (nếu có) với Cục Xuất bản để xác nhận đăng ký bổ sung.
Cách thức nộp văn bản báo cáo thực hiện theo quy định tại điểm b khoản này.
3. Danh mục xuất bản phẩm nhập khẩu đã được Cục Xuất bản xác nhận đăng ký là căn cứ để cơ sở kinh doanh nhập khẩu xuất bản phẩm làm thủ tục nhập khẩu với cơ quan hải quan và có giá trị cho đến khi hoàn thành thủ tục nhập khẩu.
4. Bộ Thông tin và Truyền thông sửa đổi, bổ sung Mẫu số 13 – Giấy đăng ký danh mục xuất bản phẩm nhập khẩu để kinh doanh và Mẫu số 14 – Danh mục xuất bản phẩm nhập khẩu để kinh doanh ban hành kèm theo Thông tư số 02/2010/TT-BTTTT ngày 11 tháng 01 năm 2010 để phù hợp với phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính quy định tại Nghị quyết số 25/NQ-CP ngày 02 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ.”
Điều 3. Hiệu lực và trách nhiệm thi hành
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 31 tháng 12 năm 2010.
2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.
- 1 Thông tư 02/2010/TT-BTTTT hướng dẫn Quy định của Luật xuất bản, Luật sửa đổi Luật xuất bản, Nghị định 111/2005/NĐ-CP và Nghị định 11/2009/NĐ-CP do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành
- 2 Nghị quyết 25/NQ-CP năm 2010 về đơn giản hóa 258 thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ, ngành do Chính phủ ban hành
- 1 Luật Tổ chức Chính phủ 2001
- 2 Luật Xuất bản 2004
- 3 Luật xuất bản sửa đổi 2008
- 4 Thông tư 02/2010/TT-BTTTT hướng dẫn Quy định của Luật xuất bản, Luật sửa đổi Luật xuất bản, Nghị định 111/2005/NĐ-CP và Nghị định 11/2009/NĐ-CP do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành
- 5 Nghị quyết 25/NQ-CP năm 2010 về đơn giản hóa 258 thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ, ngành do Chính phủ ban hành
- 6 Luật xuất bản 2012
- 7 Công văn 5758/VPCP-KGVX năm 2013 Nghị định hướng dẫn Luật xuất bản do Văn phòng Chính phủ ban hành