Nghị định số 113/2004/NĐ-CP do Chính phủ ban hành quy định chi tiết về việc xử phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm pháp luật lao động. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm thiết lập trật tự, kỷ cương trong quan hệ lao động, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cả người lao động và người sử dụng lao động, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về lao động.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với mọi tổ chức, cá nhân Việt Nam có hành vi vi phạm pháp luật lao động mà không phải là tội phạm hình sự xảy ra trong phạm vi lãnh thổ, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cá nhân, tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam cũng thuộc đối tượng áp dụng của Nghị định này, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.
Nguyên tắc xử phạt và các tình tiết trong xử lý vi phạm
- Nguyên tắc xử phạt: Việc xử phạt phải do người có thẩm quyền thực hiện nhanh chóng, công minh, triệt để. Khi phát hiện vi phạm phải đình chỉ ngay hành vi đó và khắc phục hậu quả. Một hành vi vi phạm chỉ bị xử phạt một lần; nhiều người cùng vi phạm một hành vi thì mỗi người đều bị xử phạt; một người thực hiện nhiều hành vi thì bị xử phạt về từng hành vi. Không xử phạt trong tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ hoặc người mất khả năng nhận thức.
- Các tình tiết giảm nhẹ: Người vi phạm tự nguyện ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại hoặc tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại; tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi; vi phạm khi đang mang thai, là người chưa thành niên, người cao tuổi, người tàn tật; vi phạm do hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khách quan hoặc do trình độ lạc hậu.
- Các tình tiết tăng nặng: Vi phạm có tổ chức; vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm trong cùng lĩnh vực; xúi giục người chưa thành niên hoặc ép buộc người lệ thuộc vào mình về vật chất, tinh thần; vi phạm trong tình trạng say rượu, bia hoặc chất kích thích; lợi dụng chức vụ, quyền hạn, thiên tai, chiến tranh để vi phạm; tiếp tục vi phạm dù đã có yêu cầu chấm dứt; trốn tránh, che giấu hành vi vi phạm.
Các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả
- Hình thức xử phạt chính: Cảnh cáo hoặc phạt tiền. Mức phạt tiền cụ thể là mức trung bình của khung hình phạt, có thể giảm xuống mức tối thiểu nếu có tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng lên mức tối đa nếu có tình tiết tăng nặng.
- Hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng các loại giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc không thời hạn.
- Biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc bồi hoàn thiệt hại; buộc thực hiện đúng quy định về lập quỹ dự phòng mất việc làm, giao kết hợp đồng, đăng ký thỏa ước, xây dựng thang bảng lương; trả lại tiền đặt cọc và lãi suất cho người lao động; đưa người lao động ở nước ngoài về nước; truy nộp bảo hiểm xã hội; khắc phục, sửa chữa máy móc thiết bị không an toàn; buộc kiểm định và đăng ký thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt.
Thời hiệu và thời hạn xử lý vi phạm
- Thời hiệu xử phạt: Là 01 năm kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm. Nếu quá thời hạn này thì không xử phạt tiền nhưng vẫn áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả. Trường hợp có vi phạm mới hoặc cố tình trốn tránh, trì hoãn thì thời hiệu được tính lại từ đầu. Đối với vụ án hình sự được đình chỉ nhưng có dấu hiệu vi phạm hành chính thì thời hiệu xử phạt là 03 tháng kể từ ngày có quyết định đình chỉ.
- Thời hạn được coi là chưa bị xử lý: Là 01 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hoặc hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm.
Các hành vi vi phạm cụ thể và mức xử phạt
Nghị định quy định chi tiết các khung phạt tiền đối với từng nhóm hành vi vi phạm pháp luật lao động như sau:
- Vi phạm về việc làm: Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi không công bố danh sách lao động thôi việc, không trao đổi với công đoàn hoặc không thông báo với cơ quan lao động cấp tỉnh. Phạt tiền theo quy mô lao động (từ 1.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng) đối với vi phạm về trợ cấp mất việc làm, thu phí giới thiệu việc làm vượt mức hoặc không có biên lai. Phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng nếu không lập quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm hoặc hoạt động dịch vụ việc làm không phép. Phạt từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi dụ dỗ, lừa gạt người lao động hoặc lợi dụng dịch vụ việc làm để hoạt động trái pháp luật.
- Vi phạm về học nghề: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với vi phạm về thành lập, đăng ký hoạt động cơ sở dạy nghề. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng (tùy số lượng học viên) đối với hành vi không trả công cho người học nghề trực tiếp làm ra sản phẩm, thu học phí sai quy định. Phạt từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng danh nghĩa dạy nghề để trục lợi, bóc lột sức lao động hoặc ép buộc học viên làm việc trái pháp luật.
- Vi phạm về hợp đồng lao động: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng nếu không giao hợp đồng cho người lao động hoặc vi phạm quy định thuê người giúp việc. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi giao kết hợp đồng không đúng loại hoặc thiếu chữ ký. Phạt từ 1.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với vi phạm về thời gian thử việc, tạm thời chuyển công việc, trả lương khi chuyển công việc hoặc chế độ trợ cấp thôi việc. Phạt từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi ngược đãi, cưỡng bức lao động, bắt đặt cọc tiền trái luật hoặc không sử dụng lao động theo phương án đã duyệt.
- Vi phạm về thỏa ước lao động tập thể: Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng nếu không đăng ký thỏa ước với cơ quan lao động cấp tỉnh. Phạt từ 5.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với hành vi từ chối thương lượng ký kết, sửa đổi thỏa ước hoặc thực hiện thỏa ước đã bị tuyên vô hiệu.
- Vi phạm về tiền lương, tiền thưởng: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng nếu không thực hiện nguyên tắc xây dựng thang, bảng lương hoặc khấu trừ lương không thảo luận với công đoàn. Phạt từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng nếu không trả lương trực tiếp, đúng hạn hoặc không đăng ký, công bố công khai thang bảng lương. Phạt từ 500.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi khấu trừ lương sai quy định, không trả đủ lương ngừng việc hoặc lương tạm đình chỉ công việc. Phạt từ 1.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi trả lương thấp hơn mức tối thiểu, không trả đủ lương làm thêm giờ, làm đêm hoặc phạt cúp lương của người lao động. Phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng nếu không xây dựng thang bảng lương, định mức lao động, quy chế thưởng.
- Vi phạm về thời giờ làm việc, nghỉ ngơi: Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng (tùy số lượng lao động) đối với vi phạm về thời giờ làm việc tiêu chuẩn, nghỉ giữa ca, nghỉ hàng tuần, nghỉ lễ, nghỉ hàng năm hoặc nghỉ việc riêng. Phạt từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng lao động làm thêm giờ quá giới hạn quy định.
- Vi phạm về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất: Phạt từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng nếu không tham khảo ý kiến công đoàn khi xây dựng nội quy lao động. Phạt từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng nếu không đăng ký nội quy, nội dung nội quy trái luật, không niêm yết công khai hoặc vi phạm thời hạn đình chỉ công việc. Phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng nếu không xây dựng nội quy lao động, vi phạm thủ tục xử lý kỷ luật, bồi thường thiệt hại trái luật hoặc không giải quyết quyền lợi khi kỷ luật sai.
- Vi phạm về lao động đặc thù: Phạt từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với các vi phạm về điều kiện vệ sinh cho lao động nữ; không tham khảo ý kiến đại diện lao động nữ; sử dụng lao động nữ mang thai/nuôi con nhỏ làm thêm giờ, làm đêm; không cho lao động nữ nghỉ trong thời gian hành kinh/nuôi con nhỏ; phân biệt đối xử, xúc phạm nhân phẩm lao động nữ; sử dụng lao động nữ, người cao tuổi, người tàn tật vào công việc nặng nhọc, độc hại; vi phạm quy định về lao động chưa thành niên và người tàn tật. Phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi sa thải lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nuôi con nhỏ; sử dụng lao động chưa thành niên làm việc nặng nhọc, nguy hiểm; không nhận người tàn tật vào làm việc hoặc không nộp tiền vào quỹ việc làm theo quy định.
- Vi phạm về lao động là người nước ngoài: Phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi người nước ngoài đánh đập, xúc phạm danh dự người lao động (chưa đến mức truy cứu hình sự) hoặc người sử dụng lao động sử dụng lao động nước ngoài không có giấy phép. Phạt từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng nếu tuyển lao động nước ngoài quá tỷ lệ hoặc không có kế hoạch đào tạo lao động Việt Nam thay thế. Áp dụng hình thức trục xuất đối với người nước ngoài làm việc từ 3 tháng trở lên không có giấy phép lao động hoặc tái phạm hành vi xúc phạm người lao động.
- Vi phạm về đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với các vi phạm về báo cáo, đăng ký hợp đồng xuất khẩu lao động, cử đại diện quản lý hoặc thanh lý hợp đồng. Phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với vi phạm các nghĩa vụ của doanh nghiệp xuất khẩu lao động. Phạt từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi quản lý tiền đặt cọc sai quy định. Phạt từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi tự ý tuyển chọn, đưa lao động đi nước ngoài không phép, lợi dụng danh nghĩa xuất khẩu lao động để trục lợi hoặc đưa lao động đi làm các công việc, khu vực bị cấm.
- Vi phạm về bảo hiểm xã hội (BHXH): Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi đóng BHXH không đầy đủ cho người lao động. Phạt từ 3.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi không đóng BHXH hoặc không trả BHXH vào lương cho đối tượng không bắt buộc. Phạt từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi cấp giấy chứng nhận nghỉ ốm sai. Phạt từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi giả mạo hồ sơ hưởng BHXH hoặc cản trở người lao động hưởng BHXH. Phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi cấp giấy chứng nhận giám định thương tật sai hoặc đóng BHXH chậm từ 30 ngày trở lên.
- Vi phạm về giải quyết tranh chấp lao động và đình công: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng đối với người lao động tham gia đình công trái quyết định hoãn/ngừng đình công hoặc gây thiệt hại tài sản, mất trật tự công cộng khi đình công. Phạt từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi cản trở quyền đình công, ép buộc hoặc kích động người khác đình công. Phạt từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi trù dập, trả thù người tham gia hoặc lãnh đạo đình công.
- Vi phạm về tổ chức hoạt động công đoàn: Phạt từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi không bảo đảm phương tiện, thời gian làm việc cho công đoàn; phân biệt đối xử vì lý do hoạt động công đoàn; đơn phương chấm dứt hợp đồng với cán bộ công đoàn trái quy định. Phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi cản trở thành lập hoặc hoạt động của tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp.
- Vi phạm về an toàn lao động, vệ sinh lao động: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng đối với người lao động không tuân thủ quy định an toàn hoặc không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân. Phạt từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động không trang bị đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân. Phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không che chắn máy móc nguy hiểm, không có bảng chỉ dẫn an toàn, không trang bị phương tiện cấp cứu hoặc không cung cấp đồ bảo hộ cho công việc độc hại.
- Vi phạm về bảo đảm sức khỏe người lao động: Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện bồi dưỡng bằng hiện vật, không khám sức khỏe định kỳ hoặc không lập hồ sơ sức khỏe riêng cho người bị bệnh nghề nghiệp. Phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng nếu không huấn luyện an toàn lao động, không tổ chức khám sức khỏe định kỳ hoặc vi phạm quy định về khử độc, khử trùng cho lao động làm việc độc hại.
- Vi phạm về tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh lao động: Phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không định kỳ kiểm tra nhà xưởng, vi phạm tiêu chuẩn sử dụng/bảo quản thiết bị nghiêm ngặt, không đăng ký thiết bị nghiêm ngặt hoặc không bảo đảm tiêu chuẩn nơi làm việc. Phạt từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi không có luận chứng an toàn lao động khi xây mới/cải tạo cơ sở, không kiểm định thiết bị nghiêm ngặt hoặc không ngừng hoạt động nơi có nguy cơ tai nạn cao.
- Vi phạm về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp: Phạt từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không bố trí công việc phù hợp cho người bị tai nạn/bệnh nghề nghiệp, không thanh toán chi phí y tế hoặc không trợ cấp, bồi thường theo quy định. Phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi không khai báo hoặc khai báo sai sự thật về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
Nghị định phân định rõ thẩm quyền xử phạt của các cơ quan quản lý nhà nước như sau:
- Ủy ban nhân dân các cấp: Chủ tịch UBND cấp huyện và cấp tỉnh có thẩm quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 20.000.000 đồng, áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định.
- Thanh tra Nhà nước về lao động: Thanh tra viên lao động đang thi hành công vụ có quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 200.000 đồng, tịch thu tang vật phương tiện vi phạm có giá trị đến 2.000.000 đồng và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Chánh Thanh tra lao động cấp Sở và cấp Bộ có quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 20.000.000 đồng, áp dụng hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả.
- Các ngành đặc thù (Công an, Quốc phòng, Khoa học và Công nghệ, Công nghiệp, Giao thông vận tải): Người có thẩm quyền thanh tra về an toàn, vệ sinh lao động trong các lĩnh vực đặc thù (phóng xạ, dầu khí, phương tiện vận tải, vũ trang) có thẩm quyền xử phạt tương đương với thanh tra lao động trong phạm vi quản lý của mình.
- Nguyên tắc xác định thẩm quyền: Trường hợp hành vi thuộc thẩm quyền của nhiều cơ quan thì cơ quan thụ lý đầu tiên sẽ thực hiện xử phạt. Thẩm quyền phạt tiền được xác định dựa trên mức tối đa của khung tiền phạt đối với từng hành vi cụ thể. Nếu một người thực hiện nhiều hành vi mà có hành vi vượt quá thẩm quyền của người xử phạt thì phải chuyển hồ sơ lên cấp có thẩm quyền cao hơn.
Ủy quyền, thủ tục xử phạt và công khai thông tin
- Ủy quyền: Khi người có thẩm quyền vắng mặt, cấp phó được ủy quyền có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
- Thủ tục xử phạt: Được thực hiện nghiêm ngặt theo các quy định từ Điều 54 đến Điều 68 của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002.
- Công khai thông tin: Chánh thanh tra lao động có trách nhiệm công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng về tình hình vi phạm pháp luật lao động của các doanh nghiệp và kết quả xử lý tương ứng.
Khiếu nại, tố cáo, khen thưởng và xử lý vi phạm đối với người có thẩm quyền
- Khiếu nại, tố cáo: Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền khiếu nại quyết định xử phạt hoặc các biện pháp ngăn chặn. Công dân có quyền tố cáo hành vi trái pháp luật của người có thẩm quyền trong quá trình xử lý vi phạm. Trình tự, thủ tục giải quyết tuân theo pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
- Khen thưởng: Tổ chức, cá nhân có thành tích trong phòng chống vi phạm pháp luật lao động hoặc doanh nghiệp thực hiện tốt pháp luật lao động được khen thưởng theo quy định. Nghiêm cấm trích tiền phạt hoặc tiền bán tang vật tịch thu để làm tiền thưởng.
- Xử lý vi phạm: Người có thẩm quyền xử phạt nếu sách nhiễu, dung túng, bao che, không xử phạt hoặc xử phạt vượt thẩm quyền sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại phải bồi thường. Người vi phạm có hành vi chống đối, trì hoãn chấp hành quyết định xử phạt cũng sẽ bị xử lý hành chính hoặc hình sự tùy mức độ.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm hướng dẫn
Nghị định số 113/2004/NĐ-CP có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo và thay thế hoàn toàn Nghị định số 38/CP ngày 25 tháng 6 năm 1996 của Chính phủ. Các quy định trước đây về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc thi hành Nghị định này trên phạm vi cả nước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 113/2004/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 16 tháng 4 năm 2004 |
NGHỊ ĐỊNH
CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 113/2004/NĐ-CP NGÀY 16 THÁNG 4 NĂM 2004 QUY ĐỊNH XỬ PHẠT HÀNH CHÍNH VỀ HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Bộ luật Lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động ngày 02 tháng 4 năm 2002;
Căn cứ Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội,
NGHỊ ĐỊNH:
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Đối tượng và phạm vi áp dụng
1. Nghị định này quy định việc xử phạt hành chính đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam có hành vi vi phạm pháp luật lao động mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính, xảy ra trong phạm vi lãnh thổ, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.
2. Cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính pháp luật lao động trong phạm vi lãnh thổ, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng bị xử phạt hành chính theo quy định của Nghị định này, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.
3. Pháp luật lao động được quy định tại Nghị định này bao gồm những quy định trong Bộ luật Lao động đã được sửa đổi, bổ sung và các văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành Bộ luật Lao động đã được sửa đổi, bổ sung.
Điều 2. Nguyên tắc xử phạt vi phạm pháp luật lao động
1. Việc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động do người có thẩm quyền được quy định tại
Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động khi có hành vi vi phạm quy định tại Chương II của Nghị định này.
2. Việc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để. Khi phát hiện vi phạm phải có quyết định đình chỉ ngay việc vi phạm; mọi hậu quả do hành vi vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo quy định của pháp luật.
3. Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần. Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm. Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt.
4. Việc xử lý vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân người vi phạm và những tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng được quy định tại
Điều 3. Các tình tiết giảm nhẹ
1. Người vi phạm đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của vi phạm hoặc tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại.
2. Người vi phạm hành chính đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi.
3. Người vi phạm là phụ nữ có thai, người chưa thành niên, người cao tuổi, người đang có bệnh hoặc tàn tật làm hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.
4. Vi phạm do hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không tự mình gây ra hoàn cảnh khó khăn đó.
5. Vi phạm do trình độ lạc hậu.
Điều 4. Các tình tiết tăng nặng
1. Vi phạm có tổ chức.
2. Vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm trong cùng một lĩnh vực.
3. Xúi giục, lôi kéo người chưa thành niên vi phạm, ép buộc người bị phụ thuộc vào mình về vật chất, tinh thần vi phạm.
4. Vi phạm trong tình trạng say do dùng rượu, bia hoặc các chất kích thích khác.
5. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm.
6. Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, hoàn cảnh thiên tai hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để vi phạm.
7. Vi phạm trong thời gian đang chấp hành hình phạt của bản án hình sự hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính.
8. Tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm hành chính mặc dù người có thẩm quyền đã yêu cầu chấm dứt hành vi đó.
9. Sau khi vi phạm đã có hành vi trốn tránh, che giấu hành vi vi phạm.
1. Đối với mỗi hành vi vi phạm hành chính về pháp luật lao động, tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính sau đây:
a) Cảnh cáo;
b) Phạt tiền.
Khi áp dụng hình thức phạt tiền, mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm là mức trung bình của khung tiền phạt tương ứng với hành vi đó được quy định tại Nghị định này; nếu vi phạm có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể thấp hơn nhưng không được dưới mức thấp nhất của khung phạt tiền đã được quy định; nếu vi phạm có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể cao hơn nhưng không vượt quá mức cao nhất của khung phạt tiền đã được quy định.
2. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính về pháp luật lao động còn có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng các loại giấy phép, chứng chỉ hành nghề.
3. Ngoài các hình thức xử phạt chính, xử phạt bổ sung quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính về pháp luật lao động còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:
a) Buộc bồi hoàn thiệt hại do vi phạm hành chính gây ra, kể cả những thiệt hại về máy, thiết bị và tài sản của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật;
b) Buộc thực hiện đúng các quy định của pháp luật về: lập quỹ dự phòng mất việc làm; thực hiện theo phương án sử dụng lao động; giao kết hợp đồng lao động; đăng ký thỏa ước lao động; các nguyên tắc về xây dựng thang lương, bảng lương, định mức lao động, quy chế thưởng; về nội quy lao động; về các chế độ đối với lao động đặc thù, về lao động là người nước ngoài, bảo đảm điều kiện hoạt động của công đoàn, những biện pháp về quản lý lao động; bảo đảm về an toàn lao động của công đoàn, những biện pháp về quản lý lao động; bảo đảm về an toàn lao động và vệ sinh lao động;
c) Trả lại số tiền đặt cọc và lãi suất tiết kiệm cho người lao động;
d) Tổ chức đưa người lao động ở nước ngoài về nước;
đ) Buộc truy nộp số tiền bảo hiểm xã hội;
e) Kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền phong toả tài khoản, trích nộp bảo hiểm xã hội hoặc rút giấy phép hoạt động;
g) Buộc khắc phục, sửa chữa đối với các máy, thiết bị không bảo đảm các tiêu chuẩn về an toàn lao động và vệ sinh lao động;
h) Buộc kiểm định và đăng ký các loại máy, thiết bị, vật tư, các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động và vệ sinh lao động;
i) Những biện pháp khác theo quy định của pháp luật.
Điều 6. Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính
1. Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm hành chính về pháp luật lao động quy định tại Nghị định này là một năm, kể từ ngày có hành vi vi phạm hành chính; nếu quá các thời hạn nêu trên thì không xử phạt nhưng vẫn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại
2. Trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này mà cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính mới trong cùng lĩnh vực lao động trước đây đã vi phạm hoặc cố tình trốn tránh, trì hoãn việc xử phạt thì không áp dụng thời hiệu nêu trên; thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính lại kể từ thời điểm thực hiện vi phạm hành chính mới hoặc thời điểm chấm dứt hành vi trốn tránh, trì hoãn việc xử phạt.
3. Đối với cá nhân bị khởi tố, truy tố hoặc có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự mà có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án thì bị xử phạt hành chính nếu hành vi vi phạm có dấu hiệu vi phạm hành chính, thời hiệu xử phạt là (03) ba tháng, kể từ ngày có quyết định đình chỉ điều tra hoặc đình chỉ vụ án.
Điều 7. Thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính
Thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về pháp luật lao động là một năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm.
HÀNH VI VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG, HÌNH THỨC VÀ MỨC XỬ PHẠT
VI PHẠM NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ QUAN HỆ LAO ĐỘNG
Điều 8. Vi phạm quy định về việc làm
a) Không công bố danh sách người lao động bị thôi việc theo các quy định của pháp luật lao động;
b) Không trao đổi với Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở hoặc lâm thời khi cho người lao động thôi việc;
c) Không thông báo với cơ quan lao động cấp tỉnh trước khi cho người lao động thôi việc;
a) Từ 1.000.000đồng đến 2.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 01 người đến 10 người lao động;
b) Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 11 người đến 50 người lao động;
c) Từ 5.000.000đồng đến 10.000.000đồng, khi vi phạm với từ 51 người đến 100 người lao động;
d) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 101 người đến 500 người lao động;
đ) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 500 người lao động trở lên.
3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Bị tước quyền sử dụng Giấy phép hoạt động có thời hạn, nếu vi phạm lần đầu, bị tước quyền sử dụng Giấy phép hoạt động không có thời hạn, nếu vi phạm lần thứ hai đối với các doanh nghiệp chuyên hoạt động về giới thiệu việc làm;
b) Bị cơ quan ra quyết định thành lập đình chỉ hoạt động có thời hạn, nếu vi phạm lần đầu, đình chỉ hoạt động không có thời hạn, nếu vi phạm lần thứ hai đối với những Trung tâm giới thiệu việc làm.
6. Biện pháp khắc phục hậu quả:
b) Lập quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm đối với vi phạm quy định tại điểm a khoản 3 Điều này.
Điều 9. Vi phạm những quy định về học nghề
1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm một trong những quy định về việc thành lập; đăng ký hoạt động; chia; tách; sáp nhập; đình chỉ hoạt động và giải thể cơ sở dạy nghề.
2. Phạt tiền tổ chức, cá nhân có một trong những hành vi vi phạm về: trả công cho người học nghề, tập nghề không đúng quy định tại khoản 2 Điều 23 của Bộ luật Lao động đã được sửa đổi, bổ sung; thu học phí học nghề đối với người thuộc đối tượng không phải thu; thu học phí học nghề cao hơn mức quy định của pháp luật, theo các mức sau đây:
a) Từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 01 người đến 10 người lao động;
b) Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 11 người đến 50 người lao động;
c) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 51 người đến 100 người lao động;
d) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 101 người đến 500 người lao động;
đ) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 500 người lao động trở lên.
4. Hình thức xử phạt bổ sung: tổ chức vi phạm hành chính quy định tại khoản 3 Điều này có thể bị tước quyền sử dụng Giấy phép dạy nghề có thời hạn, nếu vi phạm lần đầu, bị tước quyền sử dụng Giấy phép dạy nghề không có thời hạn, nếu vi phạm lần thứ hai.
Điều 10. Vi phạm những quy định về hợp đồng lao động.
a) Không giao một bản hợp đồng lao động cho người lao động sau khi ký;
2. Phạt tiền người sử dụng lao động có một trong những hành vi vi phạm sau: giao kết hợp đồng lao động không đúng loại theo quy định tại Điều 27 của Bộ luật Lao động đã được sửa đổi, bổ sung; hợp đồng lao động không có chữ ký của một trong hai bên, theo các mức sau đây:
a) Từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 01 người đến 10 người lao động;
b) Từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 11 người đến 50 người lao động;
c) Từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 51 người đến 100 người lao động;
d) Từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 101 người đến 500 người lao động;
đ) Từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, khi vi phạm với trên 500 người lao động trở lên.
a) Từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 01 người đến 10 người lao động;
b) Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 11 người đến 50 người lao động;
c) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 51 người đến 100 người lao động;
d) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 101 người đến 500 người lao động;
đ) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 500 người lao động trở lên.
a) Ngược đãi, cưỡng bức lao động theo quy định của pháp luật lao động;
b) Bắt người lao động đặt cọc tiền không tuân theo những quy định của pháp luật;
Điều 11. Vi phạm những quy định về thỏa ước lao động tập thể
b) Thực hiện nội dung thỏa ước lao động tập thể đã bị tuyên bố vô hiệu.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Điều 12. Vi phạm những quy định về tiền lương, tiền thưởng
a) Từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 01 người đến 10 người lao động;
b) Từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 11 người đến 50 người lao động;
c) Từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 51 người đến 100 người lao động;
d) Từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 101 người đến 500 người lao động;
đ) Từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 500 người lao động trở lên.
a) Từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 01 người đến 10 người lao động;
b) Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 11 người đến 50 người lao động;
c) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 51 người đến 100 người lao động;
d) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 101 người đến 500 người lao động;
đ) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 500 người lao động trở lên.
6. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Điều 13. Vi phạm những quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
a) Từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 01 người đến 10 người lao động;
b) Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 11 người đến 50 người lao động;
c) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 51 người đến 100 người lao động;
d) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 101 người đến 500 người lao động;
đ) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 500 người lao động trở lên.
a) Từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 01 người đến 50 người lao động;
b) Từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 50 người đến 100 người lao động;
c) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 100 người đến 500 người lao động;
d) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 500 người lao động trở lên.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Phải bố trí thời gian nghỉ bù cho người lao động đối với vi phạm tại khoản 1 Điều này;
c) Bồi hoàn những thiệt hại cho người lao động khi vi phạm những quy định tại Điều này.
Điều 14. Vi phạm những quy định về kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất
4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Điều 15. Vi phạm những quy định về lao động đặc thù
Điều 16. Vi phạm những quy định về lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam
1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi vi phạm sau đây:
b) Người sử dụng lao động sử dụng lao động nước ngoài không có giấy phép lao động.
b) Vi phạm tới lần thứ hai đối với hành vi quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
Việc trục xuất phải tiến hành đúng thẩm quyền và thủ tục theo quy định của pháp luật.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Người sử dụng lao động phải sử dụng lao động là người nước ngoài theo đúng tỷ lệ; xây dựng kế hoạch đào tạo người Việt Nam thay thế lao động nước ngoài đối với hành vi quy định tại khoản 2 Điều này;
Điều 17. Vi phạm những quy định về đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài
c) Không thực hiện đúng quy định về cử cán bộ làm đại diện quản lý lao động ở nước ngoài;
d) Không thực hiện đầy đủ và đúng hạn chế độ báo cáo định kỳ hoặc báo cáo đột xuất theo quy định;
b) Quản lý tiền đặt cọc thu của người lao động không đúng quy định.
c) Đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài các nghề, công việc và khu vực thuộc danh mục cấm.
5. Hình thức xử phạt bổ sung: áp dụng theo quy định tại các điểm a, b khoản 1 Điều 11 và khoản 2 Điều 35 của Nghị định số 81/2003/NĐ-CP ngày 17 tháng 7 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Bộ luật Lao động về người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài
6. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Điều 18. Vi phạm những quy định về bảo hiểm xã hội
a) Từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 01 người đến 10 người lao động;
b) Từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 11 người đến 50 người lao động;
c) Từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 51 người đến 100 người lao động;
d) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 101 người đến 500 người lao động;
đ) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 500 người lao động trở lên.
a) Từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 01 người đến 10 người lao động;
b) Từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 11 người đến 50 người lao động;
c) Từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 51 người đến 100 người lao động;
d) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 101 người đến 500 người lao động;
đ) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 500 người lao động trở lên;
4. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Người lao động gian lận, giả mạo hồ sơ để hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội;
5. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
6. Hình thức xử phạt bổ sung: kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền rút giấy phép hoạt động đối với vi phạm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này tới lần thứ ba.
7. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Điều 19. Vi phạm những quy định về giải quyết tranh chấp lao động và đình công
Điều 20. Vi phạm những quy định về tổ chức hoạt động công đoàn
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
b) Nhận người lao động trở lại làm việc đối với vi phạm quy định tại điểm c khoản 1 Điều này.
Điều 21. Vi phạm những quy định khác
c) Không trả sổ lao động, sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
b) Lập sổ lao động, sổ lương, sổ bảo hiểm xã hội đối với vi phạm tại điểm b khoản 1 Điều này;
VI PHẠM NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ AN TOÀN LAO ĐỘNG, VỆ SINH LAO ĐỘNG
b) Không sử dụng các trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân mà người sử dụng lao động đã trang bị.
Điều 23. Vi phạm những quy định về bảo đảm an toàn sức khỏe cho người lao động
a) Từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 01 người đến 10 người lao động;
b) Từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 11 người đến 50 người lao động;
c) Từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 51 người đến 100 người lao động;
d) Từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 101 người đến 500 người lao động;
đ) Từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, khi vi phạm với từ 500 người lao động trở lên.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
b) Phải bồi hoàn khoản bồi dưỡng cho người lao động khi vi phạm khoản 1 Điều này.
Điều 24. Vi phạm những quy định về tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Điều 25. Vi phạm những quy định về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Điều 26. Thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân các cấp
1. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 20.000.000 đồng;
c) Áp dụng biện pháp xử phạt bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định này.
d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại
2. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 20.000.000 đồng;
c) Áp dụng biện pháp xử phạt bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định này;
d) Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại
Điều 27. Thẩm quyền xử phạt của Thanh tra Nhà nước về lao động
1. Thanh tra viên lao động đang thi hành công vụ có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 200.000 đồng;
c) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng về vi phạm hành chính có giá trị đến 2.000.000 đồng.
d) áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại
2. Chánh Thanh tra lao động cấp Sở có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 20.000.000 đồng;
c) Áp dụng biện pháp xử phạt bổ sung theo quy định tại
d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại
3. Chánh thanh tra lao động cấp Bộ có quyền:
a) Phạt cảnh cáo;
b) Phạt tiền đến 20.000.000 đồng;
c) áp dụng các biện pháp xử phạt bổ sung theo quy định tại
d) Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại
Những người có thẩm quyền thanh tra về an toàn lao động, vệ sinh lao động trong các lĩnh vực quy định tại khoản 3 Điều 191 của Bộ luật Lao động đã được sửa đổi, bổ sung, khi tiến hành thanh tra có quyền xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động tương đương với thẩm quyền xử phạt của thanh tra lao động quy định tại Nghị định này.
Việc thanh tra an toàn lao động, thanh tra vệ sinh lao động trong các lĩnh vực: phóng xạ, thăm dò, khai thác dầu khí, các phương tiện vận tải đường sắt, đường thủy, đường bộ, đường hàng không và các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang do các cơ quan quản lý ngành đó thực hiện với sự phối hợp của Thanh tra nhà nước về lao động.
Điều 29. Nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về pháp luật lao động
1. Đối với hành vi vi phạm hành chính về pháp luật lao động mà thuộc thẩm quyền xử lý của nhiều cơ quan quản lý nhà nước thì việc xử phạt do cơ quan thụ lý đầu tiên thực hiện theo quy định của Nghị định này.
2. Thẩm quyền xử phạt của những người được quy định tại Điều 26, Điều 27 và Điều 28 là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính.
Trong trường hợp phạt tiền, thẩm quyền xử phạt được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt quy định đối với từng hành vi vi phạm cụ thể.
3. Trong trường hợp xử phạt một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì thẩm quyền xử phạt được xác định theo nguyên tắc sau đây:
a) Nếu hình thức, mức xử phạt được quy định đối với từng hành vi đều thuộc thẩm quyền của người xử phạt, thì thẩm quyền xử phạt vẫn thuộc người đó;
b) Nếu hình thức, mức xử phạt được quy định đối với một trong các hành vi vượt quá thẩm quyền của người xử phạt, thì người đó phải chuyển vụ vi phạm đến cấp có thẩm quyền xử phạt;
c) Nếu các hành vi thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người thuộc các cơ quan khác nhau, thì quyền xử phạt thuộc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm.
Điều 30. Uỷ quyền xử phạt vi phạm hành chính
Trong trường hợp những người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính quy định tại
Điều 31. Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính và thi hành quyết định xử phạt
Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính các hành vi vi phạm pháp luật lao động và việc thi hành quyết định xử phạt được thực hiện theo quy định tại các điều từ Điều 54 đến Điều 68 Chương VI của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính ngày 02 tháng 7 năm 2002.
Điều 32. Công khai tình hình vi phạm pháp luật lao động và kết quả xử lý
Chánh thanh tra lao động có trách nhiệm công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng về tình hình vi phạm pháp luật lao động của các doanh nghiệp và việc xử lý các hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.
KHEN THƯỞNG, KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
Điều 33. Khiếu nại, tố cáo quyết định xử phạt vi phạm hành chính và giải quyết khiếu nại, tố cáo
1. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền khiếu nại về quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính.
2. Công dân có quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi trái pháp luật khi xử lý vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động.
3. Thẩm quyền, thủ tục, trình tự, thời hạn khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại tố cáo thực hiện theo các quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
1. Cá nhân, tổ chức có thành tích trong đấu tranh phòng và chống vi phạm hành chính về pháp luật lao động được khen thưởng theo quy định chung của pháp luật về thi đua khen thưởng.
Nghiêm cấm sử dụng tiền thu được từ xử phạt vi phạm hành chính hoặc từ bán tang vật, phương tiện bị tịch thu để trích thưởng.
2. Các doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật lao động, bảo đảm quan hệ lao động phát triển lành mạnh được khen thưởng theo quy định chung của pháp luật về thi đua khen thưởng.
1. Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động nếu có hành vi sách nhiễu, dung túng, bao che, không xử phạt hoặc xử phạt không kịp thời, không đúng mức, xử phạt vượt quá thẩm quyền quy định thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
2. Người bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi phạm pháp luật lao động có hành vi cản trở, chống người thi hành công vụ, trì hoãn, trốn tránh việc chấp hành quyết định xử phạt hoặc có những hành vi vi phạm khác tùy theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
2. Nghị định này thay thế Nghị định số 38/CP ngày 25 tháng 6 năm 1996 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động.
3. Các quy định khác về xử phạt vi phạm hành chính các hành vi vi phạm pháp luật lao động trái với Nghị định này đều bãi bỏ.
Điều 37. Trách nhiệm hướng dẫn thi hành
Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc thi hành Nghị định này.
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
- 1 Thông tư liên tịch 19/2005/TTLT-BLĐTBXH-BTC-BKHĐT hướng dẫn Nghị định 81/CP và Nghị định 116/2004/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 81/CP hướng dẫn một số điều Bộ luật Lao động về lao động là người tàn tật do Bộ lao động-thương binh và xã hội - bộ tài chính - Bộ kế hoạch và đầu tư ban hành
- 2 Quyết định 714/2004/QĐ-LĐTBXH về việc thu hồi giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động của doanh nghiệp do Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành
- 3 Thông báo số 59/BC-TLĐ về báo cáo tháng 10 năm 2004 do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ban hành
- 4 Nghị định 38/CP năm 1996 quy định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động
- 5 Thông tư 01/TT-LĐTBXH-1997 hướng dẫn thủ tục, trình tự xử phạt, việc thu và sử dụng tiền xử phạt vi phạm pháp luật lao động; giải quyết khiếu nại đối với việc xử phạt hành chính vi phạm pháp luật lao động do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành
- 6 Nghị định 47/2010/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động
- 1 Nghị định 141/2005/NĐ-CP về việc quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài
- 2 Nghị định 73/2006/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dạy nghề
- 3 Nghị định 38/CP năm 1996 quy định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động
- 4 Nghị định 135/2007/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội
- 5 Nghị định 47/2010/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động
- 1 Thông tư liên tịch 19/2005/TTLT-BLĐTBXH-BTC-BKHĐT hướng dẫn Nghị định 81/CP và Nghị định 116/2004/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 81/CP hướng dẫn một số điều Bộ luật Lao động về lao động là người tàn tật do Bộ lao động-thương binh và xã hội - bộ tài chính - Bộ kế hoạch và đầu tư ban hành
- 2 Quyết định 714/2004/QĐ-LĐTBXH về việc thu hồi giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động của doanh nghiệp do Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành
- 3 Thông báo số 59/BC-TLĐ về báo cáo tháng 10 năm 2004 do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ban hành
- 4 Bộ luật Lao động 1994
- 5 Thông tư 01/TT-LĐTBXH-1997 hướng dẫn thủ tục, trình tự xử phạt, việc thu và sử dụng tiền xử phạt vi phạm pháp luật lao động; giải quyết khiếu nại đối với việc xử phạt hành chính vi phạm pháp luật lao động do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành
- 6 Luật Tổ chức Chính phủ 2001
- 7 Bộ Luật Lao động sửa đổi 2002
- 8 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002
- 9 Nghị định 81/2003/NĐ-CP Hướng dẫn Bộ Luật Lao động về người lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài
- 10 Thông tư 12/2005/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Nghị định 113/2004/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật lao động do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành