Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Năm 1964, Hội đồng Chính phủ đã ban hành Nghị định 114-CP về việc thống nhất quản lý nhà, đất ở các thành phố, thị xã nhằm thiết lập một hệ thống quản lý nhà nước đồng bộ, chặt chẽ đối với toàn bộ quỹ nhà và đất đai tại các đô thị trong giai đoạn xây dựng và phát triển đất nước.

Phạm vi và đối tượng áp dụng: Nghị định này áp dụng đối với toàn bộ các loại nhà và đất tọa lạc tại các thành phố, thị xã trên phạm vi cả nước. Đối tượng chịu sự điều chỉnh bao gồm các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang, xí nghiệp quốc doanh, các tổ chức ngoại giao nước ngoài và mọi cá nhân sở hữu hoặc sử dụng nhà, đất tại khu vực đô thị.

Nguyên tắc thống nhất quản lý nhà, đất đô thị

  • Tất cả nhà và đất tại các thành phố, thị xã đều phải chịu sự quản lý thống nhất của Nhà nước theo các chính sách, chế độ và thể lệ do Hội đồng Chính phủ ban hành. Bộ Nội vụ là cơ quan chịu trách nhiệm cao nhất trước Chính phủ trong việc hướng dẫn và giám sát thực hiện các quy định này.
  • Đối với nhà và đất thuộc sở hữu tư nhân, Nhà nước thực hiện quyền giám sát chặt chẽ thông qua chế độ đăng ký bắt buộc. Mọi hoạt động cho thuê, sửa chữa lớn hoặc chuyển dịch quyền sở hữu (như mua bán, tặng cho, thừa kế) đều phải thực hiện đăng ký và tuân thủ sự quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Phân cấp quản lý nhà và đất thuộc sở hữu nhà nước

Nghị định phân định rõ ràng thẩm quyền quản lý đối với từng nhóm nhà, đất công ích và chuyên dùng giữa Bộ Nội vụ và các Bộ, ngành chuyên môn khác:

  • Nhóm nhà, đất giao Bộ Nội vụ trực tiếp quản lý: Bao gồm các loại nhà dùng làm trụ sở làm việc hành chính, nhà ở, nhà phúc lợi tập thể (do Nhà nước đầu tư, xí nghiệp liên kết xây dựng, nhà tịch thu theo pháp luật hoặc nhà của tư sản đưa vào công tư hợp doanh); nhà cho thuê của tư nhân thuộc diện cải tạo đã bàn giao cho Nhà nước; nhà vắng chủ. Về đất đai, Bộ Nội vụ quản lý đất công, đất sa bồi, đất bỏ hoang, đất không chủ, đất thuê của tư nhân đã giao Nhà nước và đất vắng chủ.
  • Nhóm nhà chuyên dùng giao các Bộ, ngành quản lý:
    • Nhà dùng cho công tác chuyên môn khoa học, y tế, văn hóa, giáo dục (viện nghiên cứu, bệnh viện, trường học...): Nếu thuộc Trung ương thì do ngành đó quản lý; nếu thuộc địa phương thì Ủy ban hành chính cấp tỉnh quyết định tự quản lý hoặc giao ngành chuyên môn địa phương quản lý.
    • Nhà dùng vào sản xuất, kinh doanh (nhà máy, kho tàng, cửa hàng, khách sạn, rạp chiếu bóng...): Do ngành chủ quản trực tiếp quản lý về mọi mặt.
    • Doanh trại quân đội, nhà làm việc quốc phòng và nhà ở do Bộ Quốc phòng tự xây dựng: Do Bộ Quốc phòng quản lý.
    • Doanh trại của lực lượng Công an nhân dân vũ trang: Do Bộ Công an quản lý.
  • Nguyên tắc bàn giao khi thay đổi mục đích sử dụng: Khi các loại nhà chuyên dùng nêu trên không còn được sử dụng đúng mục đích ban đầu, chúng phải được bàn giao lại cho Bộ Nội vụ quản lý (nếu thuộc cơ quan Trung ương) hoặc bàn giao cho Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố quản lý (nếu thuộc cơ quan địa phương).

Thành lập và chức năng của Cục quản lý nhà, đất thuộc Bộ Nội vụ

Để thực hiện chức năng quản lý chuyên ngành, Nghị định quyết định thành lập Cục quản lý nhà, đất trực thuộc Bộ Nội vụ với các nhiệm vụ trọng tâm sau:

  • Nghiên cứu, soạn thảo và trình Hội đồng Chính phủ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chế độ về quản lý nhà, đất; đồng thời hướng dẫn, kiểm tra và đôn đốc việc thực hiện trên toàn quốc.
  • Theo dõi, tổng hợp tình hình biến động nhà, đất; phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương, địa phương và Ủy ban kế hoạch Nhà nước lập kế hoạch xây dựng mới, sửa chữa nhà ở, nhà làm việc hành chính và nhà phúc lợi tập thể.
  • Quyết định việc phân phối, điều chỉnh, sử dụng nhà làm việc, nhà ở, nhà phúc lợi của các cơ quan Trung ương đóng tại Hà Nội; xét duyệt kế hoạch sửa chữa các công trình này và các công trình chuyên môn khoa học của Trung ương.
  • Trực tiếp quản lý hoạt động cho thuê và sửa chữa nhà phục vụ cho các cơ quan thuộc Đoàn ngoại giao, các cơ quan đại diện kinh tế, văn hóa của nước ngoài tại Việt Nam.

Trách nhiệm và thẩm quyền của Ủy ban hành chính địa phương

Ủy ban hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương dưới sự hướng dẫn của Bộ Nội vụ có trách nhiệm:

  • Chỉ đạo toàn diện việc thực thi các chính sách, chế độ quản lý nhà, đất tại địa phương.
  • Nắm chắc thực trạng quỹ nhà, đất để lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng mới và cải tạo, sửa chữa nhà cửa tại địa phương.
  • Quyết định việc phân phối, điều chỉnh, sử dụng và phê duyệt kế hoạch sửa chữa đối với quỹ nhà, đất công cộng, nhà vắng chủ, nhà cải tạo được giao tại địa phương.
  • Quản lý hoạt động cho thuê nhà thuộc sở hữu nhà nước và thực hiện giám sát chặt chẽ việc cho thuê nhà của tư nhân.
  • Tổ chức công tác đăng ký đất đai, nhà ở và thiết lập hệ thống hồ sơ địa chính, hồ sơ quản lý nhà đất đồng bộ.
  • Ủy ban hành chính cấp tỉnh có quyền ủy quyền cho Ủy ban hành chính cấp huyện, thị xã, khu phố thực hiện một số nhiệm vụ cụ thể theo hướng dẫn của Bộ Nội vụ. Đồng thời, tùy theo nhu cầu thực tế, địa phương được phép thành lập Phòng hoặc bộ phận chuyên trách để giúp việc quản lý nhà, đất.

Hiệu lực thi hành

Nghị định 114-CP có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Bộ trưởng Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết và tổ chức thi hành nghiêm túc Nghị định này trên phạm vi toàn quốc.

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
********

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 114-CP

Hà Nội, ngày 29 tháng 7 năm 1964

NGHỊ ĐỊNH

CỦA HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ SỐ 114/CP NGÀY 29 THÁNG 7 NĂM 1964 VỀ VIỆC THỐNG NHẤT QUẢN LÝ NHÀ, ĐẤT Ở CÁC THÀNH PHỐ VÀ THỊ XÃ

HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ

Để tăng cường việc quản lý nhà, đất ở các thành phố, thị xã, để việc sử dụng nhà, đất được hợp lý, đưa việc xây dựng, sửa chữa nhà cửa vào kế hoạch, nhằm đáp ứng nhu cầu về nhà làm việc của các cơ quan Nhà nước, nhà ở của công nhân, viên chức và nhân dân.
Theo đề nghị của ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
Căn cứ Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ trong Hội nghị Thường vụ của Hội đồng Chính phủ ngày 8 tháng 5 năm 1964.

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1: Những nhà, đất ở các thành phố, thị xã đều được Nhà nước thống nhất quản lý theo những chính sách, chế độ, thể lệ do Hội đồng Chính phủ ban hành.

Bộ Nội vụ có trách nhiệm hướng dẫn và giám sát việc thi hành các chính sách, chế độ, thể lệ ấy.

Điều 2: Các loại nhà, đất dưới đây sẽ giao Bộ Nội vụ quản lý việc sử dụng, phân phối, điều chỉnh, cho thuê, bảo quản, sửa chữa:

A - CÁC LOẠI NHÀ:

1. Những nhà dùng để làm việc hành chính, những nhà ở, nhà phúc lợi tập thể, bất cứ là do Nhà nước xây dựng, do các xí nghiệp dùng quỹ phúc lợi đầu tư xây dựng chung với Nhà nước, do Nhà nước tịch thu theo pháp luật hoặc do những người tư sản đưa vào công tư hợp doanh.

2. Những nhà cho thuê của tư nhân thuộc diện cải tạo đã giao cho Nhà nước quản lý

3. Những nhà vắng chủ.

B - CÁC LOẠI ĐẤT:

1. Những đất công, đất sa bồi, đất bỏ hoang, đất không có chủ.

2. Những đất cho thuê của tư nhân đã giao Nhà nước quản lý .

3. Những đất vắng chủ.

Điều 3: Các loại nhà dưới đây sẽ giao cho các Bộ, các ngành quản lý như sau:

1. Những nhà dùng vào công tác chuyên môn khoa học, y tế, văn hoá, giáo dục như Viện nghiên cứu, bệnh viện, nhà an dưỡng, trường học... nếu là thuộc các ngành ở Trung ương thì do các ngành ấy quản lý việc sử dụng, phân phối, điều chỉnh trong nội bộ theo các chế độ chung của Chính phủ quy định; nếu là thuộc các ngành chuyên môn ở địa phương thì tuỳ theo sự cần thiết, Uỷ ban hành chính tỉnh, thành phố có thể hoặc tự mình quản lý về mọi mặt hoặc giao cho các ngành chuyên môn ở địa phương quản lý việc sử dụng, phân phối, điều chỉnh trong nội bộ theo các chế độ chung của Chính phủ quy định.

2. Những nhà dùng vào công việc sản xuất, kinh doanh như nhà máy, kho tàng, cửa hàng, khách sạn, rạp chiếu bóng... thuộc ngành nào thì do ngành ấy quản lý về mọi mặt theo các chế độ chung của Chính phủ quy định.

3. Những doanh trại quân đội, những nhà làm việc của các cơ quan quốc phòng và những nhà ở do Bộ quốc phòng tự xây dựng lấy, do Bộ quốc phòng quản lý về mọi mặt theo các chế độ chung của Chính phủ quy định.

4. Những doanh trại của lực lưọng Công an nhân dân vũ trang do Bộ Công an quản lý về mọi mặt và theo các chế độ chung của Chính phủ quy định.

Điều 4: Tất cả những loại nhà nói ở Điều 3 khi không còn sử dụng vào những việc như trên thì sẽ giao Bộ Nội vụ quản lý nếu là nhà thuộc các ngành ở Trung ương hoặc giao Uỷ ban hành chính tỉnh, thành phố quản lý nếu là nhà thuộc các ngành ở địa phương.

Điều 5: Tất cả những nhà, đất của tư nhân ở các thành phố, thị xã đều phải được đăng ký và chịu sự giám sát của Nhà nước về việc cho thuê, sửa chữa, chuyển dịch quyền sở hữu.

Điều 6: Nay thành lập Cục quản lý nhà, đất thuộc Bộ Nội vụ. Cục quản lý nhà, đất có nhiệm vụ giúp ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ:

1. Nghiên cứu trình Hội đồng Chính phủ ban hành các chính sách, chế độ, thể lệ về quản lý nhà, đất, hướng dẫn kiểm tra đôn đốc việc chấp hành các chính sách, chế độ, thể lệ ấy.

2. Nắm tình hình chung các loại nhà, đất, góp ý kiến với các ngành ở Trung ương, các Uỷ ban hành chính địa phương và Uỷ ban kế hoạch Nhà nước trong việc lập kế hoạch xây dựng mới và sửa chữa những nhà dùng để ở, để làm việc hành chính hay sự nghiệp và những nhà phúc lợi tập thể; hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch ấy.

3. Quyết định việc sử dụng, phân phối, điều chỉnh những nhà dùng để làm việc hành chính, nhà ở và nhà phúc lợi tập thể của các cơ quan, đoàn thể trung ương đóng tại Hà Nội, xét duyệt kế hoạch sửa chữa những nhà ấy và những nhà của các cơ quan, đoàn thể Trung ương dùng vào công tác chuyên môn khoa học nói ở điểm 1, Điều 3 trên.

4. Quản lý việc cho thuê và sửa chữa những nhà dùng cho các cơ quan thuộc Đoàn ngoại giao và các cơ quan đại diện kinh tế, văn hoá của nước ngoài.

Điều 7: Dưới sự hướng dẫn của Bộ Nội vụ, các Uỷ ban hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:

1. Lãnh đạo việc chấp hành các chính sách, chế độ, thể lệ về quản lý nhà, đất ở địa phương mình.

2. Nắm tình hình chung các loại nhà, đất, lập kế hoạch xây dựng nhà mới, sửa chữa nhà cũ ở địa phương mình.

3. Quyết định việc sử dụng, phân phối, điều chỉnh và xét duyệt kế hoạch sửa chữa các loại nhà nói ở Điều 2 trên; quyết định việc sử dụng và phân phối các loại đất nói ở Điều 2 trên.

4. Quản lý việc cho thuê nhà của Nhà nước, giám sát việc cho thuê nhà của tư nhân.

5. Tổ chức việc đăng ký, lập hồ sơ các loại nhà, đất.

Uỷ ban hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thể uỷ nhiệm cho Uỷ ban hành chính thành phố trực thuộc tỉnh, Uỷ ban hành chính thị xã, khu phố chấp hành một số nhiệm vụ nói trên theo sự hướng dẫn của Bộ Nội vụ.

Điều 8: Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, khu phố, tuỳ theo tình hình, Uỷ ban hành chính có thể tổ chức Phòng hoặc bộ phận chuyên trách để giúp mình trong việc quản lý nhà, đất, theo sự hướng dẫn của Bộ Nội vụ.

Điều 9: Ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành Nghị định này.

Phạm Hùng

(Đã ký)

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị định 114-CP năm 1964 về việc thống nhất quản lý nhà, đất ở các thành phố, thị xã do Hội đồng Chính phủ ban hành

Số hiệu: 114-CP
Loại văn bản: Nghị định
Ngày ban hành: 29/07/1964
Nơi ban hành: Hội đồng Chính phủ
Người ký: Phạm Hùng
Ngày công báo: 19/08/1964
Số công báo: Số 26
Ngày hiệu lực: 13/08/1964
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Bất động sản
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị định 114-CP năm 1964 về việc thống nhất...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký