Nghị định 116-CP được ban hành năm 1994 bởi Chính phủ, do Phó Thủ tướng Phan Văn Khải ký ban hành, quy định chi tiết về tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế tại Việt Nam. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án đối với các hoạt động kinh doanh, thương mại trong thời kỳ đầu đổi mới đất nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với tổ chức Trọng tài kinh tế và các bên tranh chấp có thỏa thuận lựa chọn Trọng tài kinh tế để giải quyết. Thẩm quyền giải quyết của Trọng tài kinh tế bao gồm các tranh chấp về hợp đồng kinh tế; các tranh chấp giữa công ty với các thành viên hoặc giữa các thành viên với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể công ty; và các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu.
Địa vị pháp lý và hình thức tổ chức của Trọng tài kinh tế
- Trọng tài kinh tế được xác định là tổ chức xã hội - nghề nghiệp, hoạt động dưới hình thức các Trung tâm Trọng tài kinh tế.
- Tổ chức và hoạt động của mỗi Trung tâm được quy định cụ thể trong Điều lệ riêng, bảo đảm phù hợp với Nghị định này và các quy định pháp luật liên quan.
- Việc giải quyết tranh chấp có thể do một Hội đồng Trọng tài gồm ba Trọng tài viên hoặc chỉ do một Trọng tài viên độc lập thực hiện.
- Quyết định giải quyết tranh chấp của Trung tâm Trọng tài kinh tế có hiệu lực thi hành ngay, không bị kháng cáo.
- Trọng tài viên khi giải quyết tranh chấp phải tôn trọng sự thật khách quan, vô tư và đúng pháp luật.
Điều kiện và thủ tục thành lập Trung tâm Trọng tài kinh tế
- Điều kiện thành lập: Trung tâm Trọng tài kinh tế chỉ được phép thành lập khi có ít nhất năm Trọng tài viên là sáng lập viên.
- Thẩm quyền cấp phép: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt trụ sở có thẩm quyền xem xét, quyết định cấp hoặc từ chối cấp giấy phép thành lập trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, sau khi thống nhất ý kiến với Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
- Hồ sơ xin phép: Bao gồm đơn xin phép (nêu rõ sáng lập viên, lĩnh vực hoạt động, địa điểm trụ sở), dự thảo Điều lệ, danh sách Trọng tài viên, sơ yếu lý lịch của sáng lập viên và bản sao thẻ Trọng tài viên.
- Thời hạn hoạt động: Giấy phép thành lập có giá trị trong thời hạn năm năm. Khi hết hạn, Trung tâm phải tiến hành thủ tục xin phép lại nếu muốn tiếp tục hoạt động.
- Cơ cấu tổ chức: Trung tâm có Chủ tịch và Phó Chủ tịch do các Trọng tài viên bầu ra. Chủ tịch Trung tâm có quyền chỉ định Thư ký của Trung tâm.
- Chấm dứt hoạt động: Trung tâm chấm dứt hoạt động khi hết hạn giấy phép, theo điều kiện của Điều lệ, bị thu hồi giấy phép, hoặc hết thời hạn sáu tháng kể từ khi không đủ số lượng tối thiểu 5 Trọng tài viên mà không được bổ sung.
Tiêu chuẩn và quản lý Trọng tài viên
- Tiêu chuẩn Trọng tài viên: Là công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, vô tư, khách quan, đồng thời có kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp luật và kinh tế.
- Trường hợp không được làm Trọng tài viên: Người mất trí, người bị kết án tù mà chưa được xóa án tích, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Thẩm phán và Kiểm sát viên không được đồng thời kiêm nhiệm vai trò Trọng tài viên.
- Cấp thẻ Trọng tài viên: Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định thành lập Hội đồng xét chọn, quy định thủ tục xét chọn và cấp thẻ Trọng tài viên.
Quản lý nhà nước đối với Trọng tài kinh tế
- Bộ Tư pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động của các Trung tâm Trọng tài kinh tế trên phạm vi cả nước.
- Sở Tư pháp hỗ trợ Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý tại địa phương thông qua các việc: tiếp nhận hồ sơ thành lập, báo cáo định kỳ, đề xuất biện pháp quản lý, kiến nghị đình chỉ hoạt động hoặc thu hồi giấy phép khi Trung tâm vi phạm pháp luật nghiêm trọng, và đề nghị Bộ Tư pháp thu hồi thẻ Trọng tài viên vi phạm.
Thủ tục giải quyết tranh chấp tại Trung tâm Trọng tài
- Thỏa thuận trọng tài: Trung tâm chỉ thụ lý vụ việc khi các bên có thỏa thuận bằng văn bản về việc đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại chính Trung tâm đó (thỏa thuận có thể lập trước hoặc sau khi tranh chấp xảy ra).
- Nộp đơn và tạm ứng lệ phí: Nguyên đơn gửi đơn yêu cầu kèm thỏa thuận trọng tài, tài liệu chứng minh và nộp tiền tạm ứng lệ phí trọng tài. Lệ phí do Trung tâm ấn định theo khung quy định của Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp, do bên thua kiện chịu trừ khi có thỏa thuận khác.
- Thông báo và trả lời: Trong vòng 7 ngày từ khi nhận đơn, Thư ký Trung tâm gửi bản sao đơn và danh sách Trọng tài viên cho bị đơn. Bị đơn phải gửi văn bản trả lời trong thời hạn được ấn định.
- Thành lập Hội đồng Trọng tài: Đối với Hội đồng 3 Trọng tài viên, mỗi bên chọn 1 người, 2 người này chọn người thứ 3 làm Chủ tịch Hội đồng. Nếu không chọn được trong 10 ngày, Chủ tịch Trung tâm sẽ chỉ định. Đối với vụ việc do 1 Trọng tài viên giải quyết, nếu các bên không thỏa thuận được người cụ thể trong 7 ngày, Chủ tịch Trung tâm sẽ chỉ định.
- Khước từ Trọng tài viên: Trọng tài viên phải khước từ hoặc bị khước từ nếu có căn cứ cho thấy không vô tư. Chủ tịch Trung tâm quyết định việc khước từ trong vòng 7 ngày kể từ khi nhận đơn yêu cầu.
- Quá trình giải quyết: Trọng tài viên nghiên cứu hồ sơ, nghe các bên trình bày, trưng cầu giám định hoặc yêu cầu cung cấp chứng cứ. Phiên họp được tiến hành bằng tiếng Việt. Các bên có thể tự tham gia hoặc cử đại diện, mời luật sư bảo vệ quyền lợi. Nếu vắng mặt không lý do chính đáng, việc giải quyết vẫn được tiến hành dựa trên tài liệu sẵn có.
- Quyết định trọng tài: Hội đồng Trọng tài biểu quyết theo nguyên tắc đa số. Quyết định phải được lập bằng văn bản, có chữ ký của tất cả Trọng tài viên và được công bố chậm nhất 5 ngày, gửi cho các bên trong vòng 3 ngày kể từ ngày ra quyết định.
- Hòa giải thành: Nếu các bên tự thương lượng được trong quá trình giải quyết, vụ việc sẽ được chấm dứt. Văn bản xác nhận thỏa thuận của Chủ tịch Trung tâm có giá trị tương đương quyết định trọng tài.
Thi hành quyết định trọng tài
Trong trường hợp quyết định trọng tài không được một bên tự nguyện chấp hành, bên kia có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền xét xử theo thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 116-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Bộ trưởng Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 116-CP | Hà Nội, ngày 05 tháng 9 năm 1994 |
CUẢ CHÍNH PHỦ SỐ 116-CP NGÀY 5-9-1994 VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TRỌNG TÀI KINH TẾ
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,
NGHỊ ĐỊNH :
1- Trọng tài kinh tế được tổ chức dưới hình thức Trung tâm Trọng tài kinh tế.
2- Tổ chức và hoạt động của mỗi Trung tâm Trọng tài kinh tế được xác định trong Điều lệ phù hợp với Nghị định này và các văn bản pháp luật khác có liên quan.
2- Trung tâm Trọng tài kinh tế chỉ nhận đơn yêu cầu giải quyết các tranh chấp kinh tế được quy định tại
TỔ CHỨC TRUNG TÂM TRỌNG TÀI KINH TẾ
2- Đơn xin phép thành lập Trung tâm Trọng tài kinh tế được gửi đến Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh), nơi Trung tâm Trọng tài dự định đặt trụ sở.
3- Đơn xin phép thành lập Trung tâm Trọng tài kinh tế có nội dung sau đây:
a) Họ tên, nghề nghiệp và địa chỉ của các Trọng tài viên là sáng lập viên;
b) Lĩnh vực hoạt động của Trung tâm Trọng tài kinh tế;
c) Địa điểm dự định đặt trụ sở của Trung tâm Trọng tài kinh tế;
a) Dự thảo Điều lệ của Trung tâm Trọng tài kinh tế;
b) Danh sách Trọng tài viên;
c) Sơ yếu lý lịch của sáng lập viên đã được Uỷ ban nhân dân phường, xã, thị trấn, nơi người đó thường trú xác nhận;
d) Bản sao thẻ Trọng tài viên.
a) Có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, vô tư, khách quan;
b) Có kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực pháp luật và kinh tế.
3- Thẩm phán, kiểm sát viên không được đồng thời là Trọng tài viên.
2- Sở Tư pháp giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quản lý tổ chức, hoạt động của Trung tâm Trọng tài kinh tế tại địa phương, bao gồm các công tác chủ yếu sau đây:
a) Tiếp nhận đơn xin phép thành lập Trung tâm Trọng tài kinh tế trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định;
b) Báo cáo thường kỳ về hoạt động của Trung tâm Trọng tài kinh tế, đề nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định các biện pháp quản lý tổ chức, hoạt động của Trung tâm Trọng tài kinh tế;
c) Xem xét, đề nghị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết các kiến nghị của Trung tâm Trọng tài kinh tế và của Trọng tài viên;
2- Giấy phép thành lập Trung tâm Trọng tài kinh tế phải ghi rõ:
a) Họ, tên các Trọng tài viên là sáng lập viên;
b) Địa chỉ trụ sở; tên gọi của Trung tâm Trọng tài kinh tế;
c) Lĩnh vực hoạt động của Trung tâm Trọng tài kinh tế.
3- Thời hạn có giá trị của giấy phép là năm năm. Khi giấy phép hết hạn, nếu Trung tâm Trọng tài kinh tế muốn tiếp tục hoạt động thì phải xin phép lại.
4- Khi cấp giấy phép thành lập, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đồng thời chuẩn y Điều lệ của Trung tâm Trọng tài kinh tế.
1- Trung tâm Trọng tài kinh tế có Chủ tịch và Phó Chủ tịch do các Trọng tài viên của Trung tâm bầu ra.
2- Chủ tịch Trung tâm Trọng tài kinh tế chỉ định Thư ký của Trung tâm.
1- Trung tâm Trọng tài kinh tế chấm dứt hoạt động khi:
a) Hết thời hạn đã ghi trong giấy phép;
b) Theo các điều kiện đã được thoả thuận trong Điều lệ;
c) Hết thời hạn sáu tháng kể từ khi Trung tâm không có đủ số lượng 5 Trọng tài viên mà không được bổ sung;
d) Bị thu hồi giấy phép.
2- Khi chấm dứt hoạt động, Trung tâm Trọng tài kinh tế phải nộp lại giấy phép thành lập cho cơ quan đã cấp giấy phép.
Đơn yêu cầu phải có nội dung sau đây:
a) Ngày, tháng, năm viết đơn;
b) Tên và địa chỉ các bên;
c) Tên Trung tâm Trọng tài kinh tế được yêu cầu giải quyết tranh chấp;
d) Tóm tắt nội dung tranh chấp và yêu cầu giải quyết;
đ) Các biện pháp thương lượng, hoà giải mà các bên đã thực hiện nhưng không đạt kết quả;
e) Họ tên Trọng tài viên mà nguyên đơn chọn trong danh sách Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài kinh tế.
2- Kèm theo đơn yêu cầu, nguyên đơn phải gửi cho Trung tâm Trọng tài kinh tế các tài liệu cần thiết để chứng minh cho yêu cầu của mình.
1- Khi gửi đơn yêu cầu, nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng lệ phí trọng tài.
2- Lệ phí trọng tài do Trung tâm Trọng tài kinh tế ấn định theo khung lệ phí trọng tài do Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp quy định.
3- Lệ phí trọng tài do người thua kiện trả, nếu các bên không có thoả thuận khác.
2- Trong thời hạn đã được Trung tâm Trọng tài kinh tế ấn định, bị đơn phải gửi văn bản trả lời cho Trung tâm và cho nguyên đơn. Văn bản trả lời có nội dung như đơn yêu cầu của nguyên đơn.
Bị đơn có thể gửi kèm theo các tài liệu cần thiết khác cho Trung tâm Trọng tài kinh tế.
Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày Trọng tài viên thứ hai đã được chọn, nếu hai Trọng tài viên được các bên chọn không chọn được Trọng tài viên thứ ba, thì Chủ tịch Trung tâm Trọng tài kinh tế chỉ định Trọng tài viên thứ ba làm Chủ tịch Hội đồng Trọng tài.
2- Mỗi bên chỉ có thể khước từ Trọng tài viên mà mình đã chọn.
3- Bên yêu cầu khước từ phải làm đơn gửi đến Trung tâm Trọng tài kinh tế.
4- Đơn yêu cầu khước từ phải được Chủ tịch Trung tâm Trọng tài kinh tế xem xét và quyết định trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận đơn.
5- Nếu đơn yêu cầu khước từ được chấp nhận thì việc chọn hoặc chỉ định Trọng tài viên thay thế được tiến hành theo quy định tại
1- Trọng tài viên nghiên cứu hồ sơ và tiến hành các công việc cần thiết cho việc giải quyết tranh chấp.
Theo yêu cầu của một hoặc các bên, hoặc theo sáng kiến của mình, Trọng tài viên có thể nghe các bên trình bày ý kiến. Trọng tài viên cũng có thể tìm hiểu sự việc từ những người khác với sự có mặt của các bên hoặc sau khi đã báo cho các bên biết.
2- Theo yêu cầu của các bên, Trọng tài viên có thể trưng cầu giám định.
3- Khi cần thiết, Trọng tài viên có thể yêu cầu các bên cung cấp các bản giải thích, các bằng chứng và tài liệu khác có liên quan.
2- Giấy triệu tập tham dự phiên họp giải quyết tranh chấp phải được gửi cho các bên trước mười lăm ngày khi mở phiên họp.
2- Các bên có thể mời luật sư để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
2- Trong trường hợp một hoặc các bên vắng mặt mà không có lý do chính đáng, thì việc giải quyết tranh chấp có thể được tiến hành căn cứ vào tài liệu và chứng cứ đã có.
1- Tiếng nói, chữ viết dùng trong quá trình giải quyết tranh chấp là tiếng Việt.
2- Các bên có thể yêu cầu Trung tâm Trọng tài kinh tế mời phiên dịch hoặc tự mời phiên dịch, nhưng phải được Trung tâm Trọng tài kinh tế chấp thuận. Bên yêu cầu phải trả chi phí phiên dịch.
2- Biên bản phải được các Trọng tài viên và Thư ký cùng ký.
3- Các bên có quyền tìm hiểu nội dung của biên bản. Những điểm thay đổi hoặc bổ sung biên bản theo yêu cầu của một bên hoặc các bên do Chủ tịch Hội đồng Trọng tài hoặc Trọng tài viên quyết định.
1- Quyết định trọng tài có các nội dung sau đây:
a) Tên Trung tâm Trọng tài;
b) Địa điểm và ngày ra quyết định;
c) Họ, tên Trọng tài viên giải quyết tranh chấp;
d) Tên, địa chỉ của các bên;
đ) Nội dung tranh chấp;
e) Căn cứ ra quyết định, nội dung quyết định;
f) Mức lệ phí trọng tài mà các bên phải chịu.
2- Hội đồng Trọng tài hoặc Trọng tài viên có thể ra quyết định giải quyết từng phần của vụ tranh chấp, nếu thấy điều đó là hợp lý.
3- Quyết định trọng tài phải có chữ ký của tất cả các Trọng tài viên.
4- Sau khi quyết định trọng tài được công bố, Hội đồng Trọng tài hoặc Trọng tài viên không được sửa đổi, bổ sung, trừ trường hợp có sai sót rõ ràng về số liệu tính toán hoặc về chính tả và phải thông báo ngay cho các bên biết.
2- Quyết định trọng tài được gửi cho các bên trong vòng ba ngày, kể từ ngày ra quyết định.
Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp có trách nhiệm hướng dẫn thi hành Nghị định này.
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
- 1 Nghị định 22-HĐBT năm 1982 bổ sung nhiệm vụ xét xử của Trọng tài kinh tế và sửa đổi thời hạn khiếu nại, xét xử do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 2 Thông tư 22-PC/TT-1982 hướng dẫn thi hành Nghị định 22-HĐBT-1982 bổ sung nhiệm vụ xét xử của Trọng tài kinh tế và sửa đổi thời hạn khiếu nại, xét xử do Trọng tài kinh tế Nhà nước ban hành
- 3 Pháp lệnh Trọng tài Thương mại năm 2003
- 1 Luật Tổ chức Chính phủ 1992
- 2 Thông tư 02/PL-DSKT-1995 hướng dẫn thi hành Nghị định 116/CP-1994 về tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế do Bộ Tư pháp ban hành
- 3 Nghị định 22-HĐBT năm 1982 bổ sung nhiệm vụ xét xử của Trọng tài kinh tế và sửa đổi thời hạn khiếu nại, xét xử do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 4 Thông tư 22-PC/TT-1982 hướng dẫn thi hành Nghị định 22-HĐBT-1982 bổ sung nhiệm vụ xét xử của Trọng tài kinh tế và sửa đổi thời hạn khiếu nại, xét xử do Trọng tài kinh tế Nhà nước ban hành