Nghị định 131/2008/NĐ-CP được ban hành bởi Chính phủ nhằm hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Luật sư về tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư, quy định cụ thể về nguyên tắc tổ chức, hoạt động, thành lập, giải thể và công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức này.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Nghị định này quy định chi tiết về nguyên tắc tổ chức, hoạt động, việc thành lập, giải thể và quản lý nhà nước đối với tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư. Đối tượng áp dụng bao gồm Đoàn luật sư các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Liên đoàn luật sư Việt Nam cùng các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan.
Chức năng, nhiệm vụ và nguyên tắc hoạt động
- Chức năng và nhiệm vụ: Các tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư được thành lập ở cấp tỉnh và toàn quốc nhằm đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các luật sư; thực hiện chức năng tự quản để xây dựng đội ngũ luật sư có phẩm chất chính trị, đạo đức và trình độ chuyên môn cao, góp phần bảo vệ công lý và phát triển kinh tế - xã hội.
- Nguyên tắc tổ chức và hoạt động: Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; hoạt động theo Điều lệ đã được phê duyệt; kết hợp hài hòa giữa chức năng tự quản với quản lý nhà nước; bảo đảm tính dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch và tự chủ hoàn toàn về tài chính.
- Trách nhiệm của Nhà nước: Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức hoạt động theo đúng pháp luật và Điều lệ; hỗ trợ về cơ sở vật chất ban đầu; thực hiện các biện pháp hỗ trợ phát triển đội ngũ, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và quy tắc đạo đức nghề nghiệp.
- Các hành vi bị nghiêm cấm: Cấm mọi hành vi cản trở, can thiệp trái pháp luật vào tổ chức và hoạt động của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư; nghiêm cấm lợi dụng danh nghĩa tổ chức để gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, lợi ích của Nhà nước, công cộng hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.
Quy định chi tiết về Đoàn luật sư cấp tỉnh
Đoàn luật sư là tổ chức xã hội – nghề nghiệp được thành lập ở mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản riêng và tự trang trải kinh phí hoạt động. Đoàn luật sư là thành viên của Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh và hoạt động theo Điều lệ riêng không trái với Điều lệ của Liên đoàn luật sư Việt Nam.
- Điều kiện thành lập: Tôn chỉ mục đích không trái pháp luật; có ít nhất ba người sáng lập đã được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư tại địa phương; có phương án cơ cấu tổ chức và dự thảo Điều lệ cụ thể.
- Thủ tục thành lập: Người sáng lập nộp hồ sơ tại Sở Tư pháp. Trong thời hạn 15 ngày, Sở Tư pháp phối hợp với Sở Nội vụ thẩm định và trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trong 5 ngày làm việc tiếp theo, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi văn bản xin ý kiến Bộ Tư pháp. Bộ Tư pháp trả lời trong 7 ngày làm việc. Sau khi có sự đồng ý bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định cho phép thành lập.
- Đại hội thành lập: Phải được tổ chức trong vòng 60 ngày kể từ ngày quyết định thành lập có hiệu lực. Đại hội tiến hành công bố quyết định, thông qua Điều lệ, bầu Ban Chủ nhiệm, Chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng, kỷ luật và thông qua phương hướng hoạt động.
- Phê duyệt Điều lệ: Trong 7 ngày làm việc sau khi thông qua, Ban Chủ nhiệm gửi hồ sơ đề nghị phê duyệt đến Sở Tư pháp. Trong 20 ngày, Sở Tư pháp phối hợp với Sở Nội vụ thẩm định và trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trong 10 ngày làm việc, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định phê duyệt hoặc từ chối (nếu nội dung trái pháp luật, trái Điều lệ Liên đoàn hoặc quy trình không dân chủ).
- Đại hội nhiệm kỳ: Là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đoàn luật sư, nhiệm kỳ không quá 5 năm. Đại hội hợp lệ khi có ít nhất hai phần ba số thành viên hoặc đại biểu triệu tập tham dự. Quyết định được thông qua khi có trên một phần hai số đại biểu có mặt tán thành. Đề án tổ chức phải báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước 30 ngày.
- Phê chuẩn kết quả Đại hội: Ban Chủ nhiệm gửi báo cáo kết quả đến Sở Tư pháp trong vòng 7 ngày làm việc sau Đại hội. Sở Tư pháp phối hợp với Sở Nội vụ trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong 10 ngày làm việc. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định phê chuẩn hoặc từ chối trong 5 ngày làm việc. Nếu bị từ chối, Đoàn luật sư phải tổ chức lại Đại hội trong vòng 60 ngày, quá thời hạn này có thể bị xem xét giải thể.
- Chế độ báo cáo và giám sát: Gửi báo cáo định kỳ hàng năm (tính từ ngày 01/10 năm trước đến 30/09 năm sau) trước ngày 10/11 cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tư pháp và Liên đoàn luật sư Việt Nam. Các văn bản quy định, quyết định, nghị quyết phải gửi cho Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Liên đoàn luật sư Việt Nam trong vòng 7 ngày làm việc kể từ ngày ban hành.
- Yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ văn bản: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền đình chỉ và yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ văn bản của Đoàn luật sư nếu trái pháp luật. Ban Thường vụ Liên đoàn luật sư Việt Nam có quyền tương tự nếu văn bản trái Điều lệ Liên đoàn.
- Bãi nhiệm Ban Chủ nhiệm và Chủ nhiệm: Áp dụng khi vi phạm nghiêm trọng Điều lệ, pháp luật, mất uy tín (không được quá một phần hai số thành viên tín nhiệm), bị kỷ luật xóa tên, tước chứng chỉ hành nghề hoặc bị kết án hình sự. Ban Thường vụ Liên đoàn luật sư Việt Nam đề nghị Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đình chỉ hoạt động và yêu cầu tổ chức Đại hội bất thường trong vòng 60 ngày (đối với Ban Chủ nhiệm) hoặc 30 ngày (đối với Chủ nhiệm) để bầu mới.
- Miễn nhiệm chức danh lãnh đạo: Thực hiện theo Điều lệ khi cá nhân mất năng lực hành vi dân sự, tự nguyện xin rút hoặc vì lý do sức khỏe, lý do khác không thể hoàn thành nhiệm vụ.
- Giải thể Đoàn luật sư: Xảy ra khi không còn đủ 3 thành viên; quá 6 tháng hết nhiệm kỳ không tổ chức Đại hội; không tổ chức lại Đại hội khi bị từ chối phê chuẩn; hoặc hoạt động vi phạm pháp luật nghiêm trọng ảnh hưởng đến an ninh quốc gia. Quyết định giải thể do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Quy định chi tiết về Liên đoàn luật sư Việt Nam
Liên đoàn luật sư Việt Nam là tổ chức xã hội – nghề nghiệp thống nhất toàn quốc của tất cả các Đoàn luật sư và luật sư cả nước, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản riêng, tự trang trải kinh phí và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Liên đoàn ban hành Điều lệ thống nhất áp dụng cho toàn bộ hệ thống tổ chức luật sư.
- Thành lập Liên đoàn: Do Đại hội đại biểu luật sư toàn quốc lần thứ nhất thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Đại hội thông qua Điều lệ, bầu Hội đồng luật sư toàn quốc, thông qua phương hướng hoạt động và nghị quyết.
- Phê duyệt Điều lệ Liên đoàn: Hội đồng luật sư toàn quốc gửi hồ sơ đến Bộ Tư pháp trong vòng 7 ngày làm việc sau khi thông qua. Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định phê duyệt hoặc từ chối trong vòng 30 ngày sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
- Đại hội nhiệm kỳ: Là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Liên đoàn, nhiệm kỳ không quá 5 năm. Đại hội hợp lệ khi có ít nhất hai phần ba số đại biểu triệu tập tham dự. Đề án tổ chức phải báo cáo Bộ Tư pháp trước 60 ngày để Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Nội vụ xem xét, cho ý kiến.
- Phê chuẩn kết quả Đại hội: Ban Thường vụ Liên đoàn gửi báo cáo kết quả đến Bộ Tư pháp trong vòng 10 ngày làm việc sau Đại hội. Bộ Tư pháp xem xét phê chuẩn hoặc từ chối trong vòng 15 ngày sau khi có ý kiến của Bộ Nội vụ. Nếu bị từ chối, Liên đoàn phải tổ chức lại Đại hội trong vòng 60 ngày, quá thời hạn này Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ Nội vụ báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét giải thể.
- Chế độ báo cáo: Gửi báo cáo định kỳ hàng năm trước ngày 15/11 cho Bộ Tư pháp. Các quy định, quyết định, nghị quyết ban hành phải gửi Bộ Tư pháp trong vòng 7 ngày làm việc.
- Sửa đổi, hủy bỏ văn bản: Bộ Tư pháp có quyền đình chỉ thi hành và yêu cầu sửa đổi, hủy bỏ các văn bản của Liên đoàn luật sư Việt Nam nếu phát hiện có nội dung trái pháp luật về luật sư.
- Bãi nhiệm Hội đồng luật sư toàn quốc và Chủ tịch Liên đoàn: Áp dụng khi vi phạm đặc biệt nghiêm trọng Điều lệ, pháp luật, mất uy tín với trên một phần hai số Đoàn luật sư, bị kỷ luật xóa tên, tước chứng chỉ hành nghề hoặc bị kết án hình sự. Bộ trưởng Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Nội vụ đề nghị Thủ tướng Chính phủ quyết định đình chỉ hoạt động và yêu cầu tổ chức Đại hội bất thường để bầu mới.
- Miễn nhiệm chức danh lãnh đạo: Thực hiện theo quy định của Điều lệ khi cá nhân mất năng lực hành vi dân sự, xin rút hoặc không đủ sức khỏe thực hiện nhiệm vụ.
- Giải thể Liên đoàn: Xảy ra khi quá 6 tháng hết nhiệm kỳ không tổ chức Đại hội; không tổ chức lại Đại hội khi bị từ chối phê chuẩn; hoặc hoạt động vi phạm pháp luật nghiêm trọng xâm hại an ninh quốc gia, trật tự xã hội. Thủ tướng Chính phủ quyết định giải thể và quyết định việc thành lập lại Liên đoàn.
Quản lý nhà nước đối với tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư
Công tác quản lý nhà nước được phân định rõ ràng giữa cơ quan trung ương và chính quyền địa phương nhằm bảo đảm tính hiệu quả và đúng pháp luật:
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp: Chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước trên phạm vi toàn quốc; xây dựng và trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật; phê duyệt Điều lệ và phê chuẩn kết quả Đại hội của Liên đoàn luật sư Việt Nam (sau khi thống nhất/có ý kiến của Bộ Nội vụ); cho ý kiến về đề án Đại hội của Liên đoàn; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; quản lý hợp tác quốc tế; đình chỉ và yêu cầu sửa đổi văn bản trái pháp luật của Liên đoàn.
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Quản lý nhà nước tại địa phương; cho phép thành lập và quyết định giải thể Đoàn luật sư (sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Tư pháp); phê duyệt Điều lệ và phê chuẩn kết quả Đại hội của Đoàn luật sư; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; quản lý hợp tác quốc tế của Đoàn luật sư; đình chỉ và yêu cầu sửa đổi văn bản trái pháp luật của Đoàn luật sư.
- Vai trò của Sở Tư pháp: Là cơ quan đầu mối giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước; chủ trì phối hợp với Sở Nội vụ thẩm định các hồ sơ thành lập, giải thể, phê duyệt Điều lệ, phê chuẩn kết quả Đại hội và đề án tổ chức Đại hội nhiệm kỳ của Đoàn luật sư để trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định; thực hiện thanh tra, kiểm tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm thực hiện
Nghị định 131/2008/NĐ-CP có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực, các quy định tại Điều 12 và Điều 13 thuộc Chương IV của Nghị định số 28/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 02 năm 2007 của Chính phủ chính thức hết hiệu lực thi hành.
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này. Bộ trưởng Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm hướng dẫn chi tiết thi hành các nội dung của Nghị định.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 131/2008/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 31 tháng 12 năm 2008 |
HƯỚNG DẪN THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT LUẬT SƯ VỀ TỔ CHỨC XÃ HỘI – NGHỀ NGHIỆP CỦA LUẬT SƯ
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Luật sư ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng
1. Nghị định này quy định về nguyên tắc tổ chức, hoạt động, việc thành lập, giải thể, quản lý nhà nước đối với tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư.
2. Nghị định này áp dụng đối với Đoàn luật sư tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Liên đoàn luật sư Việt Nam và các cơ quan, tổ chức có liên quan.
Điều 2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư
1. Tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư được thành lập ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và trong phạm vi toàn quốc để đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các luật sư; thực hiện chức năng tự quản của luật sư nhằm xây dựng, phát triển đội ngũ luật sư có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn cao, góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh tế, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
2. Tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư có nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Luật sư và Điều lệ của tổ chức mình.
Điều 3. Nguyên tắc tổ chức, hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư
1. Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật.
2. Tuân theo Điều lệ được phê duyệt theo quy định của pháp luật.
3. Kết hợp chức năng tự quản với quản lý nhà nước.
4. Dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch.
5. Tự chủ về tài chính.
Điều 4. Trách nhiệm của Nhà nước
1. Cơ quan nhà nước trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư hoạt động theo đúng quy định của pháp luật và Điều lệ.
2. Nhà nước có chính sách hỗ trợ về cơ sở vật chất ban đầu cho tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư; thực hiện các biện pháp hỗ trợ phát triển đội ngũ luật sư, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư.
Điều 5. Các hành vi bị nghiêm cấm
1. Cản trở, can thiệp trái pháp luật vào tổ chức, hoạt động của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư.
2. Lợi dụng danh nghĩa của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư để gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Điều 6. Địa vị pháp lý của Đoàn luật sư
1. Đoàn luật sư là tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư được thành lập tại mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản, hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải bằng nguồn thu từ phí thành viên, các khoản đóng góp của thành viên và nguồn thu hợp pháp khác.
2. Đoàn luật sư là thành viên của Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo Điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
3. Đoàn luật sư có Điều lệ để điều chỉnh các quan hệ nội bộ của Đoàn. Điều lệ Đoàn luật sư không được trái với Điều lệ của Liên đoàn luật sư Việt Nam.
Điều 7. Điều kiện thành lập Đoàn luật sư
1. Tôn chỉ, mục đích hoạt động không trái Hiến pháp, pháp luật.
2. Có từ ba người sáng lập có Chứng chỉ hành nghề luật sư trở lên tại mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
3. Có phương án về cơ cấu tổ chức, Điều lệ.
Điều 8. Thủ tục cho phép thành lập Đoàn luật sư
1. Hồ sơ thành lập Đoàn luật sư bao gồm:
a) Giấy đề nghị thành lập Đoàn luật sư;
b) Dự thảo Điều lệ Đoàn luật sư;
c) Dự thảo Báo cáo về phương hướng hoạt động của Đoàn luật sư;
d) Đề án tổ chức Đại hội thành lập Đoàn luật sư;
đ) Danh sách thành viên Đoàn luật sư kèm theo bản sao Chứng chỉ hành nghề luật sư.
Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản thẩm định của Sở Tư pháp kèm theo hồ sơ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có văn bản gửi Bộ Tư pháp về việc thành lập Đoàn luật sư tại địa phương. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Tư pháp có văn bản về việc thành lập Đoàn luật sư.
Sau khi có ý kiến nhất trí bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho phép thành lập Đoàn luật sư; trong trường hợp từ chối thì phải thông báo lý do bằng văn bản. Người bị từ chối có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật.
Điều 9. Đại hội thành lập Đoàn luật sư
1. Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày quyết định cho phép thành lập Đoàn luật sư có hiệu lực, những người sáng lập Đoàn luật sư phải tổ chức Đại hội thành lập Đoàn luật sư; nếu quá thời hạn này mà không tổ chức Đại hội thì quyết định cho phép thành lập Đoàn luật sư không còn hiệu lực.
2. Nội dung chủ yếu của Đại hội thành lập Đoàn luật sư bao gồm:
a) Công bố quyết định cho phép thành lập Đoàn luật sư;
b) Thảo luận và biểu quyết thông qua Điều lệ Đoàn luật sư;
c) Bầu Ban Chủ nhiệm, Chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng, kỷ luật;
d) Thông qua Báo cáo về phương hướng hoạt động của Đoàn luật sư;
đ) Thông qua Nghị quyết Đại hội.
3. Kết quả Đại hội thành lập Đoàn luật sư phải được phê chuẩn theo quy định tại
Điều 10. Phê duyệt Điều lệ Đoàn luật sư
a) Văn bản đề nghị phê duyệt Điều lệ;
b) Điều lệ và biên bản thông qua Điều lệ;
c) Nghị quyết Đại hội;
d) Văn bản nhất trí của Liên đoàn luật sư Việt Nam về nội dung Điều lệ.
Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản thẩm định của Sở Tư pháp kèm theo hồ sơ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định phê duyệt hoặc từ chối phê duyệt Điều lệ Đoàn luật sư; trong trường hợp từ chối thì phải thông báo lý do bằng văn bản.
3. Điều lệ Đoàn luật sư bị từ chối phê duyệt trong các trường hợp sau đây:
a) Có nội dung trái với quy định của Hiến pháp và pháp luật;
b) Có nội dung không phù hợp với quy định của Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam;
c) Quy trình, thủ tục thông qua Điều lệ không bảo đảm tính hợp lệ, dân chủ, công khai, minh bạch theo quy định của pháp luật, Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam.
4. Trong trường hợp Điều lệ Đoàn luật sư bị từ chối phê duyệt thì Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư phải tổ chức thực hiện việc sửa đổi nội dung Điều lệ hoặc tổ chức lại Đại hội để thông qua Điều lệ theo đúng quy định của pháp luật, Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam.
5. Khi có sự sửa đổi, bổ sung nội dung của Điều lệ Đoàn luật sư thì trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày Điều lệ sửa đổi, bổ sung được thông qua, Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư gửi Sở Tư pháp văn bản đề nghị kèm theo Điều lệ sửa đổi, bổ sung, biên bản thông qua Điều lệ sửa đổi, bổ sung, Nghị quyết Đại hội.
Việc phê duyệt Điều lệ sửa đổi, bổ sung được thực hiện theo quy định của Điều này.
6. Điều lệ Đoàn luật sư có hiệu lực kể từ ngày được phê duyệt.
Điều 11. Đại hội nhiệm kỳ của Đoàn luật sư
1. Đại hội toàn thể hoặc Đại hội đại biểu luật sư của Đoàn luật sư (sau đây gọi chung là Đại hội luật sư) là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đoàn luật sư. Nhiệm kỳ Đại hội luật sư do Điều lệ Đoàn luật sư quy định nhưng không quá 5 năm, kể từ ngày kết thúc Đại hội nhiệm kỳ trước.
2. Đại hội luật sư được coi là hợp lệ nếu có ít nhất hai phần ba số thành viên của Đoàn luật sư hoặc hai phần ba số đại biểu được triệu tập tham gia.
Việc biểu quyết thông qua các quyết định, nghị quyết của Đại hội luật sư phải được quá một phần hai số đại biểu chính thức có mặt tán thành.
4. Đại hội nhiệm kỳ của Đoàn luật sư có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tổng kết, đánh giá về tổ chức, hoạt động của Đoàn luật sư nhiệm kỳ qua;
b) Thông qua phương hướng, nhiệm vụ, tổ chức, hoạt động của Đoàn luật sư trong nhiệm kỳ mới;
c) Bầu Ban Chủ nhiệm, Chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng, kỷ luật của Đoàn luật sư;
d) Xem xét việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ (nếu có);
đ) Các nội dung khác theo quy định của Điều lệ Đoàn luật sư.
Điều 12. Phê chuẩn kết quả Đại hội luật sư
1. Nội dung phê chuẩn kết quả Đại hội luật sư bao gồm:
a) Kết quả bầu Ban Chủ nhiệm, Chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng, kỷ luật của Đoàn luật sư;
b) Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ hoặc Đại hội để bãi nhiệm và bầu mới hoặc bầu thay thế Chủ nhiệm, bầu bổ sung ủy viên Ban Chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng, kỷ luật Đoàn luật sư.
Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả Đại hội, Sở Tư pháp chủ trì, phối hợp với Sở Nội vụ xem xét và trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về việc phê chuẩn kết quả Đại hội của Đoàn luật sư.
Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trình của Sở Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định phê chuẩn hoặc từ chối phê chuẩn kết quả Đại hội; trong trường hợp từ chối thì phải thông báo lý do bằng văn bản.
3. Kết quả bầu cử bị từ chối phê chuẩn trong các trường hợp sau đây:
a) Quy trình, thủ tục bầu cử không bảo đảm tính hợp lệ, dân chủ, công khai, minh bạch theo quy định của pháp luật, Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam, Điều lệ Đoàn luật sư;
b) Chức danh lãnh đạo được bầu không đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định của Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam, Điều lệ Đoàn luật sư.
4. Nghị quyết Đại hội bị từ chối phê chuẩn trong các trường hợp sau đây:
a) Có nội dung trái với quy định của Hiến pháp, pháp luật, Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam, Điều lệ Đoàn luật sư.
b) Quy trình, thủ tục thông qua Nghị quyết không bảo đảm tính hợp lệ, dân chủ, công khai, minh bạch theo quy định của pháp luật, Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam, Điều lệ Đoàn luật sư.
5. Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày nhận được văn bản thông báo về việc từ chối phê chuẩn Đại hội, Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư phải tổ chức lại Đại hội để thực hiện việc bầu cử, việc thông qua, sửa đổi Nghị quyết theo đúng quy định của pháp luật, Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam, Điều lệ Đoàn luật sư; quá thời hạn này mà không tổ chức lại Đại hội thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xem xét, quyết định việc giải thể Đoàn luật sư.
6. Trong trường hợp tổ chức Đại hội để bãi nhiệm và bầu mới hoặc bầu thay thế Chủ nhiệm, bầu bổ sung ủy viên Ban Chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng, kỷ luật của Đoàn luật sư thì trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc Đại hội, Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư gửi Sở Tư pháp báo cáo kết quả Đại hội. Việc phê duyệt kết quả Đại hội được thực hiện theo quy định của Điều này.
Điều 13. Chế độ báo cáo, gửi các quy định, quyết định, nghị quyết của Đoàn luật sư
1. Hàng năm Đoàn luật sư có trách nhiệm gửi Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tư pháp, Liên đoàn luật sư Việt Nam báo cáo về tình hình tổ chức, hoạt động của Đoàn luật sư. Báo cáo được tính từ ngày 01 tháng 10 của năm trước đến ngày 30 tháng 9 của năm sau và gửi trước ngày 10 tháng 11 hàng năm.
Ngoài việc báo cáo theo định kỳ hàng năm, Đoàn luật sư báo cáo theo yêu cầu của Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tư pháp hoặc Liên đoàn luật sư Việt Nam.
2. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày ban hành quy định, quyết định, thông qua nghị quyết của Đoàn luật sư, Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư có trách nhiệm gửi Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Liên đoàn luật sư Việt Nam quy định, quyết định, nghị quyết đó.
Điều 14. Yêu cầu sửa đổi hoặc hủy bỏ các quy định, quyết định, nghị quyết của Đoàn luật sư
1. Trong trường hợp phát hiện hoặc khi có căn cứ cho rằng quy định, quyết định, nghị quyết của Đoàn luật sư trái với quy định của pháp luật về luật sư thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền đình chỉ thi hành và yêu cầu sửa đổi một phần hoặc hủy bỏ toàn bộ quy định, quyết định, nghị quyết của Đoàn luật sư.
2. Trong trường hợp phát hiện hoặc khi có căn cứ cho rằng quy định, quyết định, nghị quyết của Đoàn luật sư trái với quy định của Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam thì Ban Thường vụ Liên đoàn luật sư Việt Nam có quyền đình chỉ thi hành và yêu cầu sửa đổi một phần hoặc hủy bỏ toàn bộ quy định, quyết định, nghị quyết của Đoàn luật sư.
Điều 15. Bãi nhiệm Ban Chủ nhiệm, Chủ nhiệm Đoàn luật sư
1. Ban Chủ nhiệm, Chủ nhiệm Đoàn luật sư bị bãi nhiệm khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Vi phạm đặc biệt nghiêm trọng các quy định của Điều lệ Đoàn luật sư, Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mình; xâm hại lợi ích của Đoàn luật sư;
b) Thực hiện các hành vi bị nghiêm cấm quy định tại
c) Không còn sự tín nhiệm của ít nhất một phần hai số thành viên Đoàn luật sư;
d) Bị xử lý kỷ luật bằng hình thức tạm đình chỉ tư cách thành viên hoặc xóa tên khỏi danh sách luật sư của Đoàn luật sư;
đ) Bị tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề luật sư;
e) Bị kết án và bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Hội đồng khen thưởng, kỷ luật của Đoàn luật sư tạm thời thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chủ nhiệm; Chủ tịch Hội đồng khen thưởng, kỷ luật tạm thời thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ nhiệm Đoàn luật sư cho đến khi bầu Ban Chủ nhiệm và Chủ nhiệm mới của Đoàn luật sư.
Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày có quyết định đình chỉ Ban Chủ nhiệm Đoàn luật sư, Chủ tịch Hội đồng khen thưởng, kỷ luật của Đoàn luật sư phải triệu tập Đại hội luật sư bất thường.
4. Người bị bãi nhiệm có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện ra Tòa hành chính theo quy định của pháp luật.
Điều 16. Miễn nhiệm các chức danh lãnh đạo của Đoàn luật sư
1. Các chức danh lãnh đạo của Đoàn luật sư được miễn nhiệm trong các trường hợp sau đây:
a) Mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
b) Xin rút khỏi chức danh lãnh đạo;
c) Vì lý do sức khỏe hoặc lý do khác mà không thể thực hiện được nhiệm vụ.
2. Việc miễn nhiệm các chức danh lãnh đạo của Đoàn luật sư được thực hiện theo quy định của Điều lệ.
Điều 17. Giải thể Đoàn luật sư
1. Đoàn luật sư bị giải thể trong các trường hợp sau đây:
a) Không còn đủ ba luật sư thành viên của Đoàn luật sư;
b) Quá thời hạn sáu tháng kể từ ngày hết nhiệm kỳ mà không tổ chức Đại hội;
c) Không tổ chức lại Đại hội theo quy định tại
d) Hoạt động của Đoàn luật sư vi phạm nghiêm trọng pháp luật, Điều lệ Đoàn luật sư, Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
2. Trong trường hợp Đoàn luật sư bị giải thể theo quy định tại khoản 1 của Điều này thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định giải thể Đoàn luật sư sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Việc thành lập lại Đoàn luật sư được thực hiện theo quy định tại
Điều 18. Địa vị pháp lý của Liên đoàn luật sư Việt Nam
1. Liên đoàn luật sư Việt Nam là tổ chức xã hội – nghề nghiệp thống nhất toàn quốc của các Đoàn luật sư và luật sư, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản, hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải bằng nguồn thu từ phí thành viên, các khoản đóng góp của thành viên và nguồn thu hợp pháp khác.
2. Liên đoàn luật sư Việt Nam là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo Điều lệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
3. Liên đoàn luật sư Việt Nam có Điều lệ để điều chỉnh thống nhất về tổ chức, hoạt động của Liên đoàn luật sư Việt Nam, của Đoàn luật sư các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; quyền, nghĩa vụ của các thành viên Liên đoàn; quan hệ của Liên đoàn với các thành viên của mình, với các cơ quan, tổ chức có liên quan.
Điều 19. Thành lập Liên đoàn luật sư Việt Nam
1. Liên đoàn luật sư Việt Nam do Đại hội đại biểu luật sư toàn quốc lần thứ nhất thành lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
2. Nội dung chủ yếu của Đại hội đại biểu luật sư toàn quốc lần thứ nhất bao gồm:
a) Công bố quyết định thành lập Liên đoàn luật sư Việt Nam;
b) Thảo luận và biểu quyết thông qua Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam;
c) Bầu Hội đồng luật sư toàn quốc;
d) Thông qua Báo cáo về phương hướng hoạt động của Liên đoàn luật sư Việt Nam;
đ) Thông qua Nghị quyết Đại hội.
3. Kết quả Đại hội thành lập Liên đoàn luật sư Việt Nam phải được phê chuẩn theo quy định tại
Điều 20. Phê duyệt Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam
a) Văn bản đề nghị phê duyệt Điều lệ;
b) Điều lệ và biên bản thông qua Điều lệ;
c) Nghị quyết Đại hội;
2. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị phê duyệt Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định phê duyệt hoặc từ chối phê duyệt Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Nội vụ; trong trường hợp từ chối phải thông báo lý do bằng văn bản.
3. Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam bị từ chối phê duyệt trong các trường hợp sau đây:
a) Có nội dung trái với quy định của Hiến pháp và pháp luật;
b) Quy trình, thủ tục thông qua Điều lệ không bảo đảm tính hợp lệ, dân chủ, công khai, minh bạch theo quy định của pháp luật.
4. Trong trường hợp Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam bị từ chối phê duyệt thì Hội đồng luật sư toàn quốc phải tổ chức thực hiện việc sửa đổi nội dung Điều lệ hoặc tổ chức lại Đại hội để thông qua Điều lệ theo đúng quy định của pháp luật.
5. Khi có sự sửa đổi, bổ sung nội dung của Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam thì trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày Điều lệ sửa đổi, bổ sung được thông qua, Hội đồng luật sư toàn quốc gửi Bộ Tư pháp văn bản đề nghị kèm theo Điều lệ sửa đổi, bổ sung; biên bản thông qua Điều lệ sửa đổi, bổ sung, Nghị quyết Đại hội.
Việc phê duyệt Điều lệ sửa đổi, bổ sung được thực hiện theo quy định của Điều này.
6. Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam có hiệu lực kể từ ngày được phê duyệt.
Điều 21. Đại hội nhiệm kỳ của Liên đoàn luật sư Việt Nam
1. Đại hội đại biểu luật sư toàn quốc là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Liên đoàn luật sư Việt Nam. Nhiệm kỳ Đại hội của Liên đoàn luật sư Việt Nam do Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam quy định nhưng không quá 5 năm, kể từ ngày kết thúc Đại hội nhiệm kỳ trước.
2. Đại hội của Liên đoàn luật sư Việt Nam, được coi là hợp lệ nếu có ít nhất hai phần ba số đại biểu được triệu tập tham gia.
Việc biểu quyết thông qua các quyết định, nghị quyết Đại hội của Liên đoàn luật sư Việt Nam phải được quá một phần hai số đại biểu chính thức có mặt tán thành.
4. Đại hội nhiệm kỳ của Liên đoàn luật sư Việt Nam có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tổng kết, đánh giá về tổ chức, hoạt động của Liên đoàn nhiệm kỳ qua;
b) Thông qua phương hướng, nhiệm vụ, tổ chức, hoạt động của Liên đoàn trong nhiệm kỳ mới;
c) Bầu các chức danh lãnh đạo của Liên đoàn nhiệm kỳ mới;
d) Xem xét việc sửa đổi, bổ sung Điều lệ (nếu có);
đ) Các nội dung khác theo quy định của Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam.
Điều 22. Phê chuẩn kết quả Đại hội của Liên đoàn luật sư Việt Nam
1. Nội dung phê chuẩn kết quả Đại hội của Liên đoàn luật sư Việt Nam bao gồm:
a) Kết quả bầu các chức danh lãnh đạo của Liên đoàn luật sư Việt Nam;
b) Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ hoặc Đại hội để bãi miễn và bầu mới hoặc bầu thay thế, bầu bổ sung các chức danh lãnh đạo của Liên đoàn luật sư Việt Nam.
Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả Đại hội, Bộ Tư pháp xem xét, phê chuẩn hoặc từ chối phê chuẩn kết quả bầu cử, Nghị quyết Đại hội của Liên đoàn Luật sư Việt Nam sau khi có ý kiến của Bộ Nội vụ.
3. Kết quả bầu cử bị từ chối phê chuẩn trong các trường hợp sau đây:
a) Quy trình, thủ tục bầu cử không bảo đảm tính hợp lệ, dân chủ, công khai, minh bạch theo quy định pháp luật, Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam;
b) Chức danh lãnh đạo được bầu không có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam.
4. Nghị quyết Đại hội bị từ chối phê chuẩn trong các trường hợp sau đây:
a) Có nội dung trái với quy định của Hiến pháp, pháp luật, Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam;
b) Quy trình, thủ tục thông qua Nghị quyết không bảo đảm tính hợp lệ, dân chủ, công khai, minh bạch theo quy định pháp luật, Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam.
5. Trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày nhận được văn bản thông báo về việc từ chối phê chuẩn kết quả bầu cử, Nghị quyết Đại hội, Hội đồng luật sư toàn quốc phải tổ chức lại Đại hội để thực hiện việc bầu cử, việc thông qua, sửa đổi Nghị quyết theo đúng quy định của pháp luật, Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam. Trong trường hợp quá thời hạn quy định tại khoản này mà Hội đồng luật sư toàn quốc không tổ chức lại Đại hội thì Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc giải thể Liên đoàn luật sư Việt Nam.
6. Trong trường hợp tổ chức Đại hội để bãi miễn và bầu mới hoặc bầu thay thế, bầu bổ sung các chức danh lãnh đạo của Liên đoàn luật sư Việt Nam thì trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc Đại hội, Ban Thường vụ Liên đoàn luật sư Việt Nam gửi Bộ Tư pháp báo cáo kết quả Đại hội. Việc phê chuẩn kết quả Đại hội được thực hiện theo quy định của Điều này.
Điều 23. Chế độ báo cáo, gửi các quy định, quyết định, nghị quyết của Liên đoàn luật sư Việt Nam
1. Hàng năm Liên đoàn luật sư Việt Nam có trách nhiệm gửi Bộ Tư pháp báo cáo về tình hình tổ chức, hoạt động của luật sư, Đoàn luật sư trong phạm vi toàn quốc và Liên đoàn luật sư Việt Nam. Báo cáo được tính từ ngày 01 tháng 10 của năm trước đến ngày 30 tháng 9 của năm sau và gửi trước ngày 15 tháng 11 hàng năm.
Ngoài việc báo cáo theo định kỳ hàng năm, Liên đoàn luật sư Việt Nam báo cáo theo yêu cầu của Bộ Tư pháp.
2. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày ban hành quy định, quyết định, thông qua nghị quyết của Liên đoàn luật sư Việt Nam, Ban Thường vụ Liên đoàn có trách nhiệm gửi Bộ Tư pháp quy định, quyết định, nghị quyết đó.
Trong trường hợp phát hiện hoặc khi có căn cứ cho rằng quy định, quyết định, nghị quyết của Liên đoàn luật sư Việt Nam trái với quy định của pháp luật về luật sư thì Bộ Tư pháp có quyền đình chỉ thi hành và yêu cầu sửa đổi một phần hoặc hủy bỏ toàn bộ quy định, quyết định, nghị quyết của Liên đoàn luật sư Việt Nam.
Điều 25. Bãi nhiệm Hội đồng luật sư toàn quốc, Chủ tịch Liên đoàn luật sư Việt Nam
1. Hội đồng luật sư toàn quốc, Chủ tịch Liên đoàn luật sư Việt Nam bị bãi nhiệm khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Vi phạm đặc biệt nghiêm trọng các quy định của Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mình; xâm hại lợi ích của Liên đoàn luật sư Việt Nam;
b) Thực hiện các hành vi bị nghiêm cấm quy định tại
c) Không còn sự tín nhiệm của ít nhất một phần hai các Đoàn luật sư;
d) Bị xử lý kỷ luật bằng hình thức tạm đình chỉ tư cách thành viên hoặc xóa tên khỏi danh sách luật sư của Đoàn luật sư;
đ) Bị tước quyền sử dụng Chứng chỉ hành nghề luật sư;
e) Bị kết án và bản án đã có hiệu lực pháp luật;
3. Người bị bãi nhiệm có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện ra Tòa hành chính theo quy định của pháp luật.
Điều 26. Miễn nhiện các chức danh lãnh đạo của Liên đoàn luật sư Việt Nam
1. Các chức danh lãnh đạo của Liên đoàn luật sư Việt Nam được miễn nhiệm trong các trường hợp sau đây:
a) Mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
b) Xin rút khỏi chức danh lãnh đạo;
c) Vì lý do sức khỏe hoặc lý do khác mà không thể thực hiện được nhiệm vụ.
2. Việc miễn nhiệm các chức danh lãnh đạo của Liên đoàn luật sư Việt Nam được thực hiện theo quy định của Điều lệ.
Điều 27. Giải thể Liên đoàn luật sư Việt Nam
1. Liên đoàn luật sư Việt Nam bị giải thể trong các trường hợp sau đây:
a) Quá thời hạn sáu tháng kể tử ngày hết nhiệm kỳ mà không tổ chức Đại hội;
b) Không tổ chức lại Đại hội theo quy định tại
c) Hoạt động của Liên đoàn luật sư Việt Nam vi phạm nghiêm trọng pháp luật, Điều lệ Liên đoàn, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TỔ CHỨC XÃ HỘI – NGHỀ NGHIỆP CỦA LUẬT SƯ
Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước đối với tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư, có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Xây dựng, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành, hướng dẫn theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư.
2. Phê chuẩn kết quả Đại hội của Liên đoàn luật sư Việt Nam, sau khi có ý kiến của Bộ Nội vụ; phê duyệt Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam, sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
3. Chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ xem xét cho ý kiến về Đề án tổ chức Đại hội nhiệm kỳ, phương án xây dựng các chức danh lãnh đạo của Liên đoàn luật sư Việt Nam nhiệm kỳ mới.
4. Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật đối với tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư; kiểm tra việc thực hiện Điều lệ của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư.
5. Xử lý vi phạm pháp luật về tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư, giải quyết khiếu nại, tố cáo về tổ chức, hoạt động của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư.
6. Quản lý nhà nước đối với hoạt động hợp tác quốc tế của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư.
7. Đình chỉ thi hành và yêu cầu sửa đổi những quy định, quyết định và nghị quyết của Liên đoàn luật sư Việt Nam trái với quy định của pháp luật về luật sư.
1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước đối với tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư tại địa phương, có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Cho phép thành lập Đoàn luật sư, quyết định việc giải thể Đoàn luật sư sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Tư pháp;
b) Phê chuẩn kết quả Đại hội của Đoàn luật sư; phê duyệt Điều lệ Đoàn luật sư;
c) Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư; kiểm tra việc thực hiện Điều lệ của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư tại địa phương theo thẩm quyền;
d) Xử lý vi phạm pháp luật về tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư; giải quyết khiếu nại, tố cáo về tổ chức, hoạt động của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư tại địa phương theo thẩm quyền;
đ) Quản lý nhà nước đối với hoạt động hợp tác quốc tế của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư tại địa phương theo thẩm quyền;
e) Đình chỉ thi hành và yêu cầu sửa đổi những quy định, quyết định và nghị quyết của Đoàn luật sư trái với quy định của pháp luật về luật sư.
2. Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước đối với tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư tại địa phương, có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Chủ trì, phối hợp với Sở Nội vụ thẩm định hồ sơ, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho phép thành lập Đoàn luật sư; quyết định việc giải thể Đoàn luật sư;
b) Chủ trì, phối hợp với Sở Nội vụ thẩm định hồ sơ, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt Điều lệ Đoàn luật sư; chủ trì, phối hợp với Sở Nội vụ xem xét và trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về việc phê duyệt kết quả Đại hội của Đoàn luật sư;
c) Chủ trì, phối hợp với Sở Nội vụ thẩm định, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, cho ý kiến về Đề án tổ chức Đại hội nhiệm kỳ, phương án xây dựng Ban Chủ nhiệm, Hội đồng khen thưởng kỷ luật nhiệm kỳ mới;
d) Thực hiện kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư; kiểm tra việc thực hiện Điều lệ của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư tại địa phương; giải quyết khiếu nại, tố cáo về tổ chức, hoạt động của Đoàn luật sư theo ủy quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo;
Điều 12, Điều 13 Chương IV của Nghị định số 28/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 02 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Luật sư hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành.
Điều 31. Trách nhiệm thi hành Nghị định
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành Nghị định này.
| Nơi nhận: | TM. CHÍNH PHỦ |
- 1 Nghị định 28/2007/NĐ-CP Hướng dẫn Luật luật sư
- 2 Nghị định 05/2012/NĐ-CP sửa đổi Nghị định về đăng ký giao dịch bảo đảm, trợ giúp pháp lý, luật sư, tư vấn pháp luật
- 3 Nghị định 123/2013/NĐ-CP hướng dẫn và biện pháp thi hành Luật luật sư
- 4 Văn bản hợp nhất 8018/VBHN-BTP năm 2013 hợp nhất Nghị định hướng dẫn Luật luật sư về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư do Bộ Tư pháp ban hành