Nghị định 14-CP được ban hành năm 1960 bởi Hội đồng Chính phủ quy định về thể lệ vận chuyển hàng hai chiều nhằm tối ưu hóa năng lực của các phương tiện vận tải thủy và bộ, phục vụ hiệu quả cho công tác lưu thông hàng hóa và phát triển kinh tế quốc dân.
Phạm vi và đối tượng áp dụng quy định vận chuyển hai chiều
- Đối tượng bắt buộc áp dụng: Tất cả các phương tiện vận tải đường thủy và đường bộ bao gồm ô tô, tàu, xà lan, ca nô, thuyền... thuộc sở hữu của các xí nghiệp quốc doanh, cơ quan nhà nước, xí nghiệp công tư hợp doanh, hợp tác xã hoặc cá nhân tư nhân đều phải thực hiện nghĩa vụ vận chuyển hàng hai chiều.
- Các trường hợp ngoại lệ không áp dụng: Tàu xe chuyên dùng chở dầu, chở nước, xe ướp lạnh, xe cứu hỏa, xe cứu thương, xe phục vụ vệ sinh công cộng; phương tiện hoạt động nội bộ trong xí nghiệp, nông trường; xe chuyên dùng phục vụ bán hàng lưu động, quay phim, chiếu phim, khảo sát địa chất; và các phương tiện thô sơ quy mô nhỏ như xe ba gác, xích lô, thuyền con.
- Đối với lực lượng vũ trang: Phương tiện vận tải thuộc quân đội và công an nhân dân vũ trang sẽ do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ Công an phối hợp với Bộ Giao thông và Bưu điện thỏa thuận ban hành quy định riêng.
Quy trình và nghĩa vụ của phương tiện vận tải
- Nghĩa vụ tìm nguồn hàng: Các phương tiện vận tải khi không có hàng hoặc không đủ hàng vận chuyển hai chiều bắt buộc phải đến cơ quan Giao thông vận tải địa phương nơi xuất phát để xin hàng chở. Trường hợp cơ quan tại nơi xuất phát thiếu hàng hoặc ở quá xa, phương tiện phải ghé vào cơ quan Giao thông vận tải gần nhất trên lộ trình di chuyển để yêu cầu phân phối hàng.
- Quản lý hành trình: Mỗi phương tiện vận tải phải trang bị và mang theo "Sổ hành trình" theo mẫu thống nhất của Bộ Giao thông và Bưu điện để cơ quan chức năng kiểm soát, chứng nhận việc thực hiện kỷ luật vận chuyển hai chiều.
Trách nhiệm của cơ quan Giao thông vận tải và chủ hàng
- Trách nhiệm giải quyết nhanh chóng: Cơ quan Giao thông vận tải có nghĩa vụ giải quyết ngay nguồn hàng cho phương tiện đến đăng ký, tránh gây chậm trễ, chờ đợi. Nếu thực tế không có hàng, cơ quan không được phép giữ phương tiện lại.
- Quản lý và điều phối nguồn hàng: Cơ quan có hàng cần thuê vận chuyển phải thường xuyên thông báo tình hình chuẩn bị hàng hóa và thời gian vận chuyển cho cơ quan Giao thông vận tải để phối hợp kế hoạch. Chủ hàng không được tự ý thuê phương tiện vận tải bên ngoài mà không thông qua sự phân phối của cơ quan quản lý giao thông.
- Trường hợp ngoại lệ tự liên hệ: Nếu phương tiện di chuyển trên tuyến đường xa cơ quan quản lý và có chủ hàng muốn thuê chở kết hợp, phương tiện được phép nhận chở nhưng phải báo cáo và xin xác nhận tại cơ quan Giao thông vận tải gần nhất trên tuyến đường đi.
- Yêu cầu bốc dỡ và thời gian chờ đợi: Cơ quan có hàng phải chuẩn bị sẵn sàng hàng hóa và lực lượng bốc xếp để giao hàng ngay khi phương tiện đến, kể cả ngày lễ, chủ nhật hay ban đêm. Thời gian chờ đợi tối đa quy định là 30 phút đối với ô tô và 1 giờ đối với tàu, thuyền, ca nô, xà lan. Nếu quá thời hạn này, chủ hàng phải bồi thường phí tổn chờ đợi cho phương tiện theo thể lệ hiện hành.
- Công tác kiểm soát và tổ chức: Cơ quan Giao thông vận tải địa phương có trách nhiệm liên hệ hàng ngày với các chủ hàng để nắm bắt nguồn hàng, phối hợp với Công an giao cảnh kiểm soát các phương tiện đi rỗng hoặc chở không đủ tải trọng. Bộ Giao thông và Bưu điện chịu trách nhiệm thiết lập hệ thống trạm vận tải trên các trục lộ chính để giám sát.
Quy định về tài chính, cước phí và thủ tục phí
- Thu cước vận tải: Chủ phương tiện thực hiện vận chuyển kết hợp hai chiều được phép thu cước vận tải và các khoản huy động phí theo đúng biểu giá thể lệ hiện hành.
- Thủ tục phí quản lý: Cơ quan Giao thông vận tải địa phương được phép thu của chủ phương tiện một khoản thủ tục phí bằng 1% trên tổng số tiền cước của lượng hàng hóa vận tải kết hợp hai chiều hoặc hàng hóa được phân phối chở thêm để đài thọ chi phí quản lý.
- Miễn thủ tục phí: Trường hợp chủ phương tiện tự khai thác được nguồn hàng chở kết hợp hai chiều (không qua sự phân phối trực tiếp của cơ quan Giao thông vận tải) thì được miễn hoàn toàn khoản thủ tục phí này.
Chế tài xử lý vi phạm
- Ủy ban hành chính địa phương các cấp (khu, thành phố, tỉnh) và cơ quan Giao thông vận tải có thẩm quyền phê bình, cảnh cáo các cá nhân, tổ chức vi phạm quy định vận chuyển hai chiều.
- Đối với các hành vi cố ý vi phạm nhiều lần, gây thiệt hại nghiêm trọng đến việc thực hiện kế hoạch kinh tế của Nhà nước, cơ quan chức năng có quyền đưa đối tượng vi phạm ra truy tố trước tòa án.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 14-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 07 năm 1960. Bộ trưởng Bộ Giao thông và Bưu điện chịu trách nhiệm giải thích chi tiết và hướng dẫn thi hành nghị định này.
| HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ | VIỆT |
| Số: 14-CP | Hà Nội, ngày 27 tháng 05 năm 1960 |
HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
Để giảm bớt tình trạng sử dụng lãng phí phương tiện vận tải và phục vụ tốt kế hoạch sản xuất, xây dựng cơ bản và lưu thông hàng hóa;
Theo đề nghị của ông Bộ trưởng Bộ Giao thông và Bưu điện;
Căn cứ vào nghị quyết của Hội đồng Chính phủ trong phiên họp hội nghị Thường vụ của Hội đồng Chính phủ ngày 16 tháng 3 năm 1960,
NGHỊ ĐỊNH:
Nếu cơ quan Giao thông vận tải nơi xuất phát thiếu hàng hoặc ở quá xa, thì trên đường đi, phương tiện vận tải phải đến cơ quan Giao thông vận tải gần nhất để xin hàng chở.
Cơ quan có hàng không được tự ý thuê phương tiện vận tải mà không qua cơ quan Giao thông vận tải phân phối.
Trường hợp đặc biệt, nếu phương tiện vận tải đi trên đường xa cơ quan Giao thông vận tải, có chủ hàng muốn thuê chở hàng mà chưa kịp báo cáo cho cơ quan Giao thông vận tải, thì phương tiện vận tải có thể nhận chở hàng kết hợp, nhưng khi qua cơ quan Giao thông vận tải gần nhất, thì phải báo cáo và xin chứng nhận.
Thời gian chờ đợi, tính từ lúc phương tiện vận tải đến nơi nhận hàng cho đến lúc bắt đầu giao hàng ấn định như sau:
- 30 phút đối với ô-tô.
- 1 giờ đối với tàu, thuyền, ca nô, xà lan.
Nếu cơ quan có hàng để phương tiện vận tải chờ đợi quá thời gian đã ấn định, thì phải bồi thường phí tổn cho phương tiện vận tải ấy theo thể lệ vận tải hiện hành.
Cơ quan Giao thông vận tải phải phối hợp chặt chẽ với Công an giao cảnh địa phương kiểm soát các phương tiện vận tải đi không, hoặc chở không đủ trọng tải.
Bộ Giao thông và bưu điện có trách nhiệm tăng cường cơ quan Giao thông vận tải các cấp và tổ chức hệ thống trạm vận tải trên các trục giao thông chính để đảm bảo thi hành tốt việc kết hợp vận chuyển hàng hai chiều.
Nếu chủ phương tiện vận tải tự tìm được hàng chở kết hợp hai chiều (không phải do cơ quan Giao thông vận tải phân phối) thì được miễn nộp thủ tục phí.
Điều 13. - Nghị định này thi hành kể từ ngày 01 tháng 07 năm 1960.
| T.M. HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ |